Bản án 12/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 12/2019/HS-ST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 13 TUỔI ĐẾN DƯỚI 16 TUỔI

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/HSST-HPT ngày 29/01/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tôn Minh T, sinh năm 1998, tại Bình Dương; hộ khẩu thường trú tại: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Tôn Văn L, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị A (chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại và Tòa án áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 10/9/2004; Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Tuyết N:

1. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1983 (cha ruột); Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986 (mẹ ruột); Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

 - Đoàn thanh niên huyện D đại diện cho bị hại Nguyễn Thị Tuyết N: Ông Nguyễn Hoàng Quân – Chức vụ: Ủy viên Ban thường vụ Huyện đoàn – Phó chủ tịch thường trực Hội liên hiệp thanh niên huyện D. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Tôn Văn L1, sinh năm 1968; Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bà Trương Thị B, sinh năm 1974; Hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

3. Ông Lê Trọng P, sinh năm 1992; Hộ khẩu thường trú: Ấp B2, xã G, huyện F, tỉnh Bình Phước. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tôn Minh T và Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 10/9/2004, hộ khẩu thường trú: ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương quen nhau qua mạng xã hội Facebook từ tháng 2 năm 2018 và có quan hệ tình cảm yêu thương nhau. Trong thời gian quen biết và yêu thương nhau, T và N đã quan hệ tình dục với nhau 02 lần. Cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 20 giờ 00 phút một ngày (không xác định) giữa tháng 6 năm 2018, Tôn Minh T điều khiển xe mô tô Dream, màu nâu, biển số 93C1-051.27 đến nhà bà ngoại của N là bà Phạm Thị Y, sinh năm 1964, hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương gặp Nguyễn Thị Tuyết N. Sau đó, T chở N đến quán cà phê “Sân Vườn” tại ấp V, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương để uống cà phê. Khoảng 21 giờ 30 phút, T chở N đến nhà bạn của T để uống rượu.

Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, T chở N về nhà bà ngoại của N. Trên đường đi, T nảy sinh ý định quan hệ tình dục với N nên T chở N đến cây cao su số 1, hàng số 6 theo hướng từ Tây sang Đông, từ Nam qua Bắc thuộc lô cao su của ông Nguyễn Bùi X tại ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T nói với N: “Cho anh quan hệ nha”. N trả lời: “Ừ, sao cũng được”. T ôm hôn N và cởi áo khoác của T đang mặc trên người ra trải dưới đất cho N nằm. T và N quan hệ tình dục với nhau 01 lần. Sau đó, T chở N về nhà bà ngoại của N.

Lần thứ 2: Khoảng 21 giờ 30 phút, một ngày (không xác định) cuối tháng 6 năm 2018. T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, màu xanh – bạc, biển số 61H1-319.28 đến nhà bà ngoại của N chở N đến phòng trọ của ông Văn Thành T2, sinh năm 1980 tại ấp H1, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T dừng xe trước phòng trọ và một mình đi vào hỏi ông T2 thuê phòng để nghỉ. Lúc này, ông T2 đang nằm ngủ nên đưa cho T 01 tấm ga trải giường màu trắng và nói: “Ra xem phòng nào trắng, sạch thì ngủ đi” rồi tiếp tục ngủ. T đi vào phòng số 04, mở đèn, quét phòng, mở quạt rồi đi ra ngoài dẫn N vào phòng và đóng cửa lại. T trải tấm ga trải giường xuống nền nhà và tắt đèn. T và N quan hệ tình dục với nhau 01 lần. Sau đó, T chở N về nhà bà ngoại của N.

Ngày 13/7/2018, bà Phạm Thị Z (bà ngoại Nguyễn Thị Tuyết N), sau khi biết được Tôn Minh T đã nhiều lần giao cấu với N đã gửi đơn tố giác hành vi phạm tội của T gửi Công an xã M, sau đó chuyển lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D giải quyết theo thẩm quyền.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 45/CN ngày 09/8/2018 của Trung tâm y tế huyện D xác định: Nguyễn Thị Tuyết N không vết trầy xước toàn thân, màng trinh dãn rộng, bờ mòn, đút lọt 02 ngón tay.

Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 297/2018/GĐPY ngày 10/8/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyễn Thị Tuyết N âm hộ, tầng sinh môn không trầy xước; màng trinh dãn rộng, đút lọt 02 ngón tay, bờ mòn; âm đạo có ít huyết trắng.

Vào tháng 10/2017, Nguyễn Thị Tuyết N là bị hại trong vụ án Trần Minh Tiến phạm tội “Giao cấu với trẻ em” nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D đã có Quyết định trưng cầu giám định số 27/QĐ-CSĐT ngày 07/11/2017 yêu cầu giám định độ tuổi của bị hại N, tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 3803/C54B ngày 20/11/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng. Xác định tại thời điểm giám định (tháng 11 năm 2017) Nguyễn Thị Tuyết N có độ tuổi từ 13 năm 03 tháng đến 13 năm 09 tháng. Như vậy, tại thời điểm quan hệ tình dục với bị cáo T, Nguyễn Thị Tuyết N có độ tuổi từ 13 năm 10 tháng đến 14 năm 04 tháng.

Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 4158/C09B ngày 16/10/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng. Xác định tại thời điểm giám định (tháng 10 năm 2018) Tôn Minh T có độ tuổi thấp nhất 19 năm, không đủ cơ sở xác định chính xác độ tuổi. Như vậy, tại thời điểm quan hệ tình dục, Tôn Minh T có độ tuổi thấp nhất là 18 năm 10 tháng.

Đại diện của tổ chức Đoàn thanh niên huyện Dầu Tiến (ông Nguyễn Hoàng Quân) có ý kiến: Do bị hại là người chưa thành niên, về thể chất và tinh thần đang trong giai đoạn phát triển, hoàn thiện, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe và quá trình phát triển bình thường của bị hại nên cần có hình phạt tương xứng để có sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo như Cáo trạng số 01/CT-VKSDT-HS ngày 18/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tôn Minh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo Tôn Minh T bồi thường nên không đặt vấn đề giải quyết.

 - Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô màu nâu, biển số 93C1-051.27 do Lê Trọng P, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: xã G, huyện F, tỉnh Bình Phước đứng tên. Ông P bán lại cho ông Tôn Văn L1, sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ông L1 không biết việc T có hành vi giao cấu với Nguyễn Thị Tuyết N nên đây không phải là phương tiện thực hiện tội phạm, vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng không thu giữ xử lý.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xanh – bạc, biển số 61H1-319. 28 do bà Trương Thị B, sinh năm 1974, nơi cư trú: ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương là chủ sở hữu hợp pháp. Bà B cho T mượn xe và không biết T có hành vi giao cấu với Nguyễn Thị Tuyết N nên đây không phải là phương tiện thực hiện tội phạm, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng không thu giữ xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm theo quy định pháp luật.

[2] Thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử của Tòa án: Ngày 15/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/HSST – QĐ và triệu tập bị cáo Tôn Minh T tham gia phiên tòa vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 29/01/2019. Tuy nhiên, bị cáo Tôn Minh T vắng mặt tại phiên tòa mà không thông báo lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 290, 297 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/HSST-HPT ngày 29/01/2019. Ngày 20/02/2019, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng ban hành Quyết định bắt, tạm giam số 04/2019/HSST-QĐBTG đối với bị cáo Tôn Minh T. Ngày 05/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng nhận được văn bản số 16/CV-CSTHAHS ngày 05/3/2019 của Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Dầu Tiếng xác định bị cáo Tôn Minh T đã trốn khỏi địa phương nơi đang cư trú, hiện bị cáo T đang ở đâu, làm gì không ai biết nên không thi hành được Quyết định bắt, tạm giam đối với bị cáo.

Để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án sau này, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng có văn bản số 76/TA-HS ngày 05/3/2019 đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương ra Quyết định truy nã đối với bị cáo Tôn Minh T. Ngày 11/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã ra Quyết định truy nã số 03/QĐ. Ngày 22/4/2019, Tòa án huyện Dầu Tiếng nhận được văn bản số 69/CV của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng trả lời vẫn chưa bắt được bị cáo Tôn Minh T. Vì vậy, Tòa án tiếp tục mở phiên tòa xét xử vắng mặt người bị truy nã theo điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Những chứng cứ xác định có tội:

Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian tháng 6 năm 2018, tại lô cao su của ông Nguyễn Bùi J thuộc ấp C, xã S, huyện D và nhà trọ của ông Văn Thành T2 thuộc ấp H1, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; bị cáo Tôn Minh T đã 02 lần quan hệ tình dục với bị hại Nguyễn Thị Tuyết N. Tại thời điểm quan hệ tình dục bị cáo đủ 18 tuổi, bị hại có độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Như vậy, bản Cáo trạng số 01/CT-VKSDT-HS ngày 18/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, mức độ l i, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bản thân bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi 02 lần quan hệ tình dục với bị hại có độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi như trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương trong bối cảnh hiện nay tội phạm về xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Bản thân bị cáo biết hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về điều kiện phạm tội: Nguyễn Thị Tuyết N từng là bị hại trong vụ án “Giao cấu với trẻ em” do Trần Minh Tiến thực hiện năm 2017 và đang độ tuổi ăn học nhưng không được sự quan tâm giáo dục, quản lý của cha, mẹ; bản thân bị hại không cố gắng học hành, sớm bỏ học, sa vào lối sống buông thả tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

 Từ những tình tiết trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân nhằm thể hiện sự nghiêm minh cũng như khoan hồng của pháp luật. Với hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và gia đình, cũng như răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về vấn đề trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

- Về vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô màu nâu, biển số 93C1-051.27 do Lê Trọng P, sinh năm 1992, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã G, huyện F, tỉnh Bình Phước đứng tên. Ông P bán lại cho ông Tôn Văn L1, sinh năm 1968, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu xanh – bạc, biển số 61H1-319. 28 do bà Trương Thị B, sinh năm 1974, nơi cư trú: ấp C, xã S, huyện D, tỉnh Bình Dương là chủ sở hữu hợp pháp. Ông L1, bà B không biết việc bị cáo có hành vi giao cấu với bị hại nên đây không phải là phương tiện thực hiện tội phạm, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng không thu giữ xử lý là đúng quy định pháp luật.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Xét ý kiến của đại diện Đoàn thanh niên huyện D về việc xem xét hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ Khoản 1 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ khoản 1, 2, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Hình phạt:

1. Tuyên bố bị cáo Tôn Minh T phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Tôn Minh T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Không giải quyết.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Tôn Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) .

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.


79
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Số hiệu:12/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về