Bản án 12/2018/HSST ngày 29/08/2018 về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 12/2018/HSST NGÀY 29/08/2018 VỀ TỘI TỔ CHỨC CHO NGƯỜI KHÁC TRỐN ĐI NƯỚC NGOÀI

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2018/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Thị H - Sinh 1982. Trú tại: Thôn Z, xã NLL, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hoá: Lớp 02/12; Dân tộc: Mường; Con ông: Phạm Văn K và bà Trịnh Thị X; Chồng Bùi Văn D - Sinh năm 1977; Con: Có 03 con lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006. (Hiện bị cáo đang mang thai); Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/9/2017 bị cáo bị xử phạt hành chính về hành hành vi bán dâm. Ngày 31/10/2017 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại có mặt phiên tòa.

Người làm chứng:

- Chị Lương Thị H - Sinh năm 1986. (Có mặt)

Trú tại: Bản T, xã TL, huyện ML, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Lương Thị H - Sinh năm 1994. (Có mặt)

Trú tại: Bản H, xã ST, huyện QS, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Cao Tình N - Sinh năm 1998. (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn V, xã CB, huyện CT, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Lê Thị H - Sinh năm 1974. (Có mặt)

Trú tại: Phố Z, xã QT, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Bùi Hải D - Sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn O, xã CC, huyện CT, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Lê Thế A - Sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Trú tại: Phố Z, xã QT, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4 năm 2017, Phạm Thị H tình cờ quen biết Lê Thị O sinh năm 1984, ở xã PL, huyện TG, tỉnh Thanh Hóa có chồng người Trung Quốc và đang sinh sống tại Trung Quốc. Sau khi biết Phạm Thị H có nhu cầu lấy chồng Trung Quốc, Lê Thị O đã giới thiệu cho H anh trai của chồng mình. Sau đó Phạm Thị H đã xin Lê Thị O đưa sang Trung Quốc để xem mặt. Ngày 10/5/2017, vợ chồng Lê Thị O đã đón Phạm Thị H cùng con gái là Bùi Thị Huyền T, sinh năm 2000 và Nguyễn Thị H, sinh năm 1994 (Là con nuôi) của H tại thành phố Thanh Hóa. Khi đến Lạng Sơn, tất cả đều đi bộ qua đồi trốn sang Trung Quốc đến nhà vợ chồng O thuộc tỉnh Anh Huy, Trung Quốc để ở. Sau khi xem mặt anh trai của chồng O, Phạm Thị H trở về nhà thu xếp việc gia đình để sang Trung Quốc sống với người này, còn Bùi Thị Huyền T và Nguyễn Thị H ở lại nhà Lê Thị O nhờ xin việc.

Khoảng đầu tháng 6/2017, khi Phạm Thị H đang ở Ngọc Lặc thì Nguyễn Thị H báo tin và mời H đến ngày 01/7/2017 sang Trung Quốc dự đám cưới của H, đồng thời Nguyễn Thị H còn nói được nhà chồng cho 30.000NDT (ba vạn NDT) để sắm đồ cưới và gửi về cho bố mẹ đẻ. Trước khi sang Trung Quốc dự đám cưới, H được biết khi lấy chồng Trung Quốc sẽ được nhà chồng cho tiền, nên H đã rủ Lương Thị H sinh năm 1994 ở xã ST, huyện QS, tỉnh Thanh Hóa sang Trung Quốc lấy chồng.

Ngày 27/6/2017, Phạm Thị H đã thuê xe ô tô của Lê Thế A ở phố Z, xã QT, huyện NL chở H cùng với Lương Thị H, Cao Tình N, sinh năm 1998 ở CB, CT (là người yêu của H) đi cùng sang Trung Quốc tìm việc làm, chị Lê Thị H, sinh năm 1974 ở NL (Là chị em họ hàng với H) và Lương Thị H, sinh năm 1986 ở xã TL, huyện ML (Là em kết nghĩa của chị H) sang Trung Quốc dự đám cưới của H. Khi đến Lạng Sơn, do trời tối không sang Trung Quốc được, nên Phạm Thị H đã thuê nhà nghỉ cho mọi người ngủ lại và đợi Lê Thị O sáng mai sang Việt Nam đón mọi người. Đến ngày 28/6/2017, do Lê Thị O bị mệt không sang Việt Nam đón H được, nên đã nhờ hai người phụ nữ (H không biết tên, địa chỉ) đón và đưa cho H 30.000NDT, đây là số tiền do Nguyễn Thị H gửi H đưa cho bố mẹ H 30.000.000đ tiền việt nam (Ba mươi triệu đồng), số tiền còn lại nhờ H giữ hộ khi H về sẽ lấy. Sau khi nhận tiền H bảo Lương Thị H và Lương Thị H đi cùng hai người phụ nữ sang Trung Quốc. Còn chị Lê Thị H do bị ốm, anh Cao Tình N không có giấy chứng minh nhân dân, nên H đưa hai người quay về Ngọc Lặc và sẽ đưa sang Trung Quốc sau.

Sau khi về nhà ở thị trấn Ngọc Lặc, Phạm Thị H đã đến nhà bố mẹ NguyễnThị H đưa số tiền 30.000.000đ mà H nhờ H chuyển giúp. Sau khi sang Trung Quốc chị Lương Thị H đến nhà Lê Thị O để ở một thời gian, sau đó biết tin con ở nhà bị ốm nên H điện thoại cho Phạm Thị H nhờ H gửi tiền cho gia đình H để lo thuốc men. Do Phạm Thị H từ chối không gửi tiền, nên Lương Thị H đã đến Công an Trung Quốc trình báo, đồng thời nhờ anh Cao Tình N báo cho gia đình H làm đơn tố cáo Phạm Thị H.

Theo trình báo của Lương Thị H, Công an Trung Quốc đã tiến hành bắt giữ đối với Lê Thị O, Nguyễn Thị H và Lương Thị H từ tháng 7/2017 đến tháng 01/2018 mới trao trả về Việt Nam.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-P1 ngày 13/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Thị Hạnh về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo khoản 1 Điều 349 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố Phạm Thị H về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” và xác định tại thời điểm bị cáo pham tội bị cáo không có thai, hiện nay bị cáo đang mang thai, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 33 đến 36 tháng tù, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và hối hận về việc làm của mình. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa những người làm chứng đã trình bày phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp nội dung bản cáo trạng và lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Về căn cứ định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng đã nêu, đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 27 và 28/6/2017Phạm Thị H đã tổ chức sắp xếp thuê xe, thuê nhà nghỉ và chi phí ăn uống trên đường đi cho 04 người là chị Lương Thị H, anh Cao Tình N, chị Lê Thị H và chị Lương Thị H trốn sang Trung Quốc, trong đó chị H và chị H đã vượt qua biên giới Việt Nam sang Trung Quốc, còn anh N và chị H chưa vượt qua biên giới Việ Nam vì lý do khách quan. Hành vi của Phạm Thị H đã phạm vào tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” quy định tại khoản 1 Điều 275 Bộ luật Hình sự năm 1999. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, truy tố Phạm Thị H về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, theo khoản 1 Điều 349 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

 [2]. Về tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an ninh đối nội và đối ngoại của Nhà nước Việt Nam, gây dư luận xấu trong nhân dân. Để giữ nghiêm pháp luật và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, phải lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.

 [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, theo phiếu siêu âm thai Phạm Thị H ngày 02/4/2018 của Bệnh viện Công an tỉnh Thanh Hóa thể hiện kết quả: “Ước tính tuổi thai hiện tại 18 tuần”, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào cuối tháng 6/2017, như vậy tại thời điểm bị cáo phạm tội bị cáo không có thai, tuy nhiên trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đang mang thai và được coi là một trong những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có nhân thân xấu phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

 [4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang mang thai, nghề nghiệp làm ruộng, kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

 [5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

 [6]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và ban hành các văn bản, quyết định phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tôi: “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 349; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với bị cáo Phạm Thị H.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị H 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/8/2018.


210
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về