Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 31/01/2018 về ly hôn, nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRUỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/01/2018 VỀ LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 31 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 158/2017/TLST – HNGĐ, ngày 14 tháng 12 năm 2017 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu V; địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 8, xã A, huyện B, tỉnh Nam Định; địa chỉ nơi ở: Xóm 5, xã A, huyện B, tỉnh Nam Định; “có mặt”;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc H; địa chỉ nơi cư trú: Xóm 8, xã A, huyện B, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2017 và trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị Thu V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc H tự nguyện tìm hiểu, kếthôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Nam Định vào ngày 26/11/2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, mấy năm trở lại đây chị và anh H sống không hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về mọi mặt tính cách, lối sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh H có lần đánh chị, hay đi chơi đánh bạc, thiếu quan tâm đến gia đình và con cái. Trướcđây vào tháng 9 năm 2017, chị đã làm đơn xin ly hôn anh H, khi làm việc tại Tòa án, Tòa án tác động, chị đã bỏ qua cho anh H một số lỗi nên vợ chồng đoàn tụ. Nhưng khi đoàn tụ quan hệ vợ chồng không cải thiện. Nay chị đã suy nghĩ kỹ, chị và anh H không thể chung sống cùng nhau, chị xin được ly hôn anh H.

Về việc nuôi con: Chị và anh H có 01 con chung là: Nguyễn Khánh Ch, sinh ngày 21/8/2012. Lúc cháu Chi ở với anh H, lúc cháu Chi ở với chị V, hiện tại cháu Chi đang ở cùng chị. Khi ly hôn chị V có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung, hiện chị là giáo viên mầm non ở Trường mầm non Sao Sáng, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, có nơi ăn chốn ở tại nhà anh trai chị, thu nhập ổn định trên 6 triệu/tháng, bố mẹ đẻ chị cũng đều là cán bộ công chức nhà nước và đảm bảo nơi ăn chốn ở, mọi sinh hoạt tốt nhất cho mẹ con chị khi chị đi về nên chị đảm bảo nuôi được cháu Chi khôn lớn, trưởng thành mà không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình làm việc, tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị đơn anhNguyễn Quốc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh nhất trí với lời trình bày của chị V về quá trình kết hôn, mâu thuẫn. Vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn do tính cách, lối sống không hòa hợp, anh đã có lần duy nhất tát chị, thỉnh thoảng có vui bạn bè thì ngồi chơi đánh bài. Trước đây chị V đã làm đơn xin ly hôn anh, khi hòa giải tại Tòa án, vợ chồng đã đoàn tụ, nhưng nay chị V lại xin ly hôn anh. Vì vậy, anh xác định ly hôn hay không là tùy thuộc hoàn toàn vào chị V, anh không có biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc, nếu chị V cương quyết ly hôn, anh đành chấp nhận, mọi việc do Tòa án phân xử.

Về việc nuôi con: Vợ chồng có một con chung như chị V đã trình bày. Khi ly hôn anh nhận trực tiếp nuôi con chung. Hiện anh là công chức Chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự xã A, thu nhập cộng phụ cấp khoảng 4 triệu đồng/tháng, ngoài ra mẹ anh là giáo viên mầm non nên có thể giúp anh trong việc nuôi con, anh đảm bảo nuôi được con chung khôn lớn trưởng thành, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương xã A xác định được: Các đương sự trình bày về việc kết hôn, mâu thuẫn cũng như việc các đương sự trình bày về con chung, điều kiện nuôi con chung là đúng.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đều đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị giải quyết ly hôn giữa chị V và anh H, đề nghị giao cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ghi nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tuân thủ đầy đủ thủ tục tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án; các đương sự đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh V và anh Nguyễn Quốc H có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách, lối sống không hòa hợp. Bản thân anh H cũng xác định anh không có biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc, nếu chị V cương quyết ly hôn thì anh đành chịu. Đến nay chị V vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Xét thấy trước đây chị V đã làm đơn ly hôn anh H nhưng khi về đoàn tụ chỉ một thời gian ngắn chị V lại có đơn ly hôn điều này chứng tỏ mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, hôn nhân đã thực sự tan vỡ không hàn gắn được, có bạo lực gia đình nên nguyện vọng xin ly hôn của chị V được chấp nhận, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[3] Về việc nuôi con: Chị V và anh H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu phía bên kia cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào lời khai, tài liệu do các đương sự xuất trình, cũng như qua xác minh tại địa phương xã A thấy chị V và anh H đều có điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, xét cháu Nguyễn Khánh Ch đang ở tuổi mẫu giáo, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, cũng để đảm bảo điều kiện phát triển về mọi mặt của con chung, trên cơ sở thực tế và bảo vệ quyền lợi của bà mẹ, trẻ em, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Khánh Ch cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn; ghi nhận việc chị V tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; không ai được cản trở thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung - phù hợp quy định tại Điều 81, Điều82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản: Chị V và anh H không yêu cầu giải quyết khi ly hôn nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thu V phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Thu V và anh Nguyễn Quốc H.

2. Về việc nuôi con: Giao cho chị Phạm Thị Thu V tiếp tục trực tiếp trôngnom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Khánh Ch, sinh ngày21/8/2012. Anh Nguyễn Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyềnthăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu V phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng,được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị V đã nộp theo Biên lai thusố 0000653 ngày 14/12/2017  của Chi cục  Thi hành  án dân  sự huyện  XuânTrường, chị Phạm Thị Thu V đã nộp đủ án phí ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thu V và anh Nguyễn Quốc H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


134
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 31/01/2018 về ly hôn, nuôi con

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuân Trường - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về