Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 22/01/2018 về tranh chấp xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 22/01/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN 

Ngày 22 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 740/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ THU T, sinh năm 1984 (Có mặt)

Địa chỉ: tổ X, ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh NGUYỄN HỮU TUÝ E, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: tổ X, ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 14/9/2017 và lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Do quen biết nên chị và anh Tuý E kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 6/2016 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Tuý E có dấu hiệu ngoại tình, không quan tâm vợ con và anh chị đã chính thức ly thân từ đó đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh Tuý E.

Con chung có hai cháu tên Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 02/7/2007, Nguyễn Duy Th, sinh ngày 20/01/2012, hiện đang sống với chị T. Nay chị yêu cầu được nuôi hai cháu, không yêu cầu anh Tuý E cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không tranh chấp nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hữu Tuý E đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải kèm giấy triệu tập theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự liên quan việcchị T khởi kiện như trên nhưng anh Tuý E vẫn không có văn bản nêu ý kiến và cố tình vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Hữu Tuý E vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Tuý E.

Về nội dung:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên toà, chị T trình bày do quen biết nên chị và anh Tuý E xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T. Sau khi cưới, anh chị chỉ sống hạnh phúc đến tháng 6/2016 thì phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân luôn từ đó đến nay. Nguyên nhân do anh Tuý E có dấu hiệu ngoại tình không quan tâm vợ con. Nay chị cương quyết xin ly hôn anh Tuý E. Xét thấy, cho chị T được ly hôn với anh Tuý E là có cơ sở. Bởi lẽ, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Tuý E để đảm bảo quyền nêu ý kiến của anh, cũng như hoà giải để anh chị hàn gắn, đoàn tụ nhưng anh Tuý E vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện anh không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Cho nên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có hai cháu tên Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 02/7/2007, Nguyễn Duy Th, sinh ngày 20/01/2012, hiện đang sống với chị T. Xét thấy, tiếp tục giao hai con chung cho chị T nuôi là có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, trước giờ hai cháu đã sống ổn định với chị T từ khi vợ chồng ly thân đến nay và bản thân cháu N cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Đồng thời, sau khi Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Tuý E thì anh vẫn bỏ mặc không có văn bản ý kiến gì liên quan đến yêu cầu được nuôi con chung của chị T. Thêm vào đó, căn cứ vào văn bản ý kiến xác nhận của đại diện địa phương do đương sự cung cấp cho rằng chị T nuôi hai con sẽ tốt hơn. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi của con chung cũng như để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập, sinh hoạt của các cháu nên tiếp tục giao hai con chung cho chị T nuôi là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng: Chị T không có yêu cầu nên Toà án không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên Toà án không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu T. Cho chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Hữu Tuý E.

Về con chung: Tiếp tục giao hai cháu Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh ngày 02/7/2007, Nguyễn Duy Th, sinh ngày 20/01/2012 cho chị T nuôi. Anh Tuý E khôn phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, anh Tuý E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 07639 ngày 16/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nên xem như thi hành xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 22/01/2018 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về