Bản án 12/2018/DSST ngày 11/07/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 12/2018/DSST NGÀY 11/07/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 11 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thi xa Bình Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2018/TLST- DS, ngày 26/01/2018, về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐST - DS ngày 28 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2018/QĐST - DS ngày 22/6/2018, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần SG

Địa chỉ: Số 927 Trần Hưng Đ, phường 1, quận 5, Thành Phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Tấn H, Chức vụ Tổng giám đốc

Đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn Nh, chức vụ Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ.

Người nhận ủy quyền lại: Ông Phan Trường V, chức vụ cHên viên (có mặt) Địa chỉ: 346 -348 Hai Bà Tr, phường TĐ, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Nguyễn Tường H, sinh năm 1972 và bà Phùng Thị Thúy V, sinh năm 1976. Cùng trú tai: Tổ 18, khu phố Phú B, phường AL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước (các đương sự xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ và lời khai tại Tòa án nhân dân thị xã BL cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo của ông Phan Trường V là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: Ngày 30/9/2016 ông Nguyễn Tường H và bà Phùng Thị Thúy V ký hợp đồng tín dụng số 767/HĐTD /SCB – CNTD.16, thế chấp 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu INTERNATION AL và 01 sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC vay của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 900.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất được tính tùy theo từng thời điểm được điều chỉnh trong hợp đồng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Qúa trình thực hiện hợp đồng ông H và bà V đã không thực hiện trả nợ đúng hạn theo hợp đồng. Tính đến ngày 26/12/2017 (ngày Ngân hàng nộp đơn khởi kiện), ông H và bà V đã trả một phần nợ gốc là 183.850.000 đồng, còn nợ Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh TĐ tổng cộng 783.067.472đ (bảy trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm bảy mươi hai đồng) trong đó nợ gốc 716.150.000 đồng, Lãi trong hạn 28.110.281 đồng, Phạt gốc quá hạn 850.493 đồng, Phạt chậm trả lãi 667.772 đồng và phạt vi phạm hợp đồng là 37.288.927 đồng. Do quá trình thực hiện hợp đồng ông H và bà V không trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ theo thỏa thuận trong hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo cho ông H, bà V trả nợ nhưng không thực hiện. Nên Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Tường H và bà Phùng Thị Thúy V có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tiền nợ gốc và lãi. Trong giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Tòa án thì ông H và bà V đã trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn nợ lại cả tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 11/7/2018 tổng cộng 784.242.581 đồng (có kèm theo bản kê). Nay yêu cầu ông H và bà V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 784.242.581 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng.

Ngoài ra phía nguyên đơn còn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi vốn nếu trường hợp ông H và bà V không trả được nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ.

Bị đơn ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V trình bày: Ông H và bà V xác định ngày 30/9/2016 có ký hợp đồng tín dụng  số 767/HĐTD /SCB- CNTD.16, thế chấp 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu INTERNATION AL và 01 sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC vay của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 900.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất được tính tùy theo từng thời điểm được điều chỉnh trong hợp đồng thoe quy định của Ngân hàng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Tính đến ngày 26/12/2017 ông H và bà V đã trả được 183.850.000 đồng, còn nợ Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh TĐ tổng cộng 783.067.472đ (bảy trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm bảy mươi hai đồng) trong đó nợ gốc 716.150.000 đồng, Lãi trong hạn 28.110.281 đồng, Phạt gốc quá hạn 850.493 đồng, Phạt chậm trả lãi 667.772 đồng và phạt vi phạm hợp đồng là 37.288.927 đồng đúng như phía đại diện Ngân hàng trình bày. Ông H và bà V đề nghị phía Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ tạo điều kiện cho ông H và bà V có thời gian trả nợ và các bên thống nhất thời gian đến ngày 21/5/2018 phía ông H và bà V trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ được số tiền 200.000.000 đồng thì Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ rút đơn khởi kiện nhưng ông H và bà V không thực hiện được như cam kết, chỉ trả được cho cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ 50.000.000 đồng, số tiền còn lại ông H và bà V đồng ý trả nợ đồng ý trả lãi theo hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng nhưng hiện tại hoàn cảnh gia đình khó khăn nên xin trả nợ từ từ.

Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ buộc ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V có nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ cả tiền nợ gốc và tiền lãi tổng cộng 784.242.581 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Theo đơn khởi kiện cùng tài liệu và bản khai tại Tòa án của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ tính đến ngày 11/7/2018 tổng số tiền 784.242.581đ (bảy trăm tám mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm tám mươi mốt đồng) tiền nợ gốc và tiền nợ lãi các khoản và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng lập ngày 30/09/2016. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp tín dụng” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V là bị đơn trong vụ án có địa chỉ và nơi cư trú tại tổ 18, khu phố Phú B, phường AL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Tòa án căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V.

[2] Về nội dung vụ án:

Ngày 30/9/2016 ông Nguyễn Tường H và bà Phùng Thị Thúy V có ký hợp đồng tín dụng thế chấp 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu INTERNATION AL và 01 sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC vay của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 900.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất được tính tùy theo từng thời điểm theo quy định của Ngân hàng được điều chỉnh phù hợp trong hợp đồng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Qúa trình thực hiện hợp đồng ông H và bà V đã không thực hiện trả nợ đúng hạn theo hợp đồng. Tính đến ngày 26/12/2017 (ngày Ngân hàng nộp đơn khởi kiện), ông H và bà V đã trả một phần nợ gốc là 183.850.000 đồng, còn nợ Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh TĐ số tiền là 783.067.472đ (bảy trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm bảy mươi hai đồng). Trong giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Tòa án thì ông H và bà V đã trả thêm cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn nợ lại cả tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 11/7/2018 tổng cộng 784.242.581 đồng (có kèm theo bản kê). Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Tường H và bà Phùng Thị Thúy V có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền 784.242.581 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng.

Trường hợp ông H và bà V không trả được nợ cho Ngân hàng thì đề nghị phát mãi tài sản thế chấp thu hồi tiền nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ.

Bị đơn ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua biên bản hòa giải ngày 20/3/2018 và ngày 10/5/2018 (bút lục số 69 và 71) xác định ông Nguyễn Tường H – bà Phùng Thị Thúy V có ký hợp đồng tín dụng thế chấp 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu INTERNATION AL và 01 sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC vay của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 900.000.000 đồng, đã trả một phần nợ gốc số còn lại nợ gốc và các khoản lãi phát sinh tính đến ngày 26/12/2017 ông H và bà V còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ tổng cộng: 783.067.472đ (bảy trăm tám mươi ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm bảy mươi hai đồng). Ông H và bà V đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin tiếp tục trả theo hợp đồng đã ký.

Xét yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ về việc đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc ông Nguyễn Tường H và bà Phùng Thị Thúy V có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh TĐ tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 11/7/2018 ) là 784.242.581 đồng. Việc đến hạn trả lãi mà ông H và bà V không trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ theo thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm theo quy định tại Điều 14 của Hợp đồng tín dụng số số 767/HĐTD /SCB – CNTD.16 ngày 30/9/2016 mà các bên đã ký, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại các Điều 317, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ yêu cầu ông H và bà V trả tiền nợ gốc và các khoản lãi phát sinh là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận buộc ông Nguyễn Tường H và bà Phùng Thị Thúy V có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh TĐ tổng số tiền 784.242.581đ (bảy trăm tám mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm tám mươi mốt đồng). Ngoài ra ông H và bà V còn phải trả lãi phát sinh cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ theo hợp đồng tín dụng, tính từ ngày 12/7/2018.

Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ có nghĩa vụ trả lại cho ông H và bà V, chứng từ pháp lý sau: Một Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 011707 ngày 27/09/2016, biển kiểm soát: 93C-077.37 và một Chứng nhận đăng ký Rơ mooc, sơ mi rơ mooc số 000472 ngày 27/09/2016, biển kiểm soát: 93R-004.61. Khi ông H và bà V trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ. Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu INTERNATION AL và 01 sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ được ưu tiên thanh toán.

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V về việc đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng hiện tại hoàn cảnh gia đình khó khăn xin được có thời gian trả nợ, xin cho được tiếp tục trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc như trong hợp đồng nhưng phía Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ không đồng ý. Như vậy việc phía bị đơn đề nghị cho được trả nợ dần là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; thì do yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V phải nộp 35.369.703đ (ba mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm lẻ ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466, Điều 299 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ.

2. Buộc ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 784.242.581đ (bảy trăm tám mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm tám mươi mốt đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V còn phải trả lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ theo hợp đồng tín dụng số 767/HĐTD/SCB – CNTD.16 ngày 30/9/2016 của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án.Thời gian trả lãi tiếp theo tính từ ngày 12/7/2018.

4. Ông H và bà V trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ. Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V: Một Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 011707 ngày 27/09/2016, biển kiểm soát: 93C-077.37 và một Chứng nhận đăng ký Rơ mooc, sơ mi rơ mooc số 000472 ngày 27/09/2016, biển kiểm soát: 93R-004.61.

Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu INTERNATION AL và 01 sơ mi rơ mooc nhãn hiệu CIMC thì Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ được ưu tiên thanh toán.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Ông Nguyễn Tường H và bà Nguyễn Thị Thúy V phải nộp 35.369.703đ (ba mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm lẻ ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần SG chi nhánh TĐ số tiền 17.662.000đ (mười bảy triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004002 ngày 19/01/2018 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã BL.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ này bản án được tống đạt hợp lệ.


263
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/DSST ngày 11/07/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:12/2018/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về