Bản án 12/2017/HS-ST ngày 08/12/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 12/2017/HS-ST NGÀY 08/12/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2017/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2017/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Vàng A G, sinh ngày 09 tháng 5 năm 1976 tại Phù Yên-Sơn La; nơi cư trú: Bản Tr, xã ST, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Hmông; con ông: Vàng A C (đã chết); con bà: Tráng Thị T (đã chết); có vợ là Sồng Thị D, bị cáo có 06 con, con lớn 26 tuổi, con nhỏ 13 tuổi; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: nghiện ma túy; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20 tháng 10 năm 2017 đến nay; “có mặt”.

- Người tham gia tố tụng khác: Anh Sồng A Páo, nơi cư trú: Bản Lũng Khoai B, xã ST, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La là người làm chứng; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 20/10/2017, Vàng A G đang ở nhà tại Bản Tr, xã ST thì có anh Sồng A Páo (ở Bản Lũng Khoai B, xã ST) đến hỏi mua ma túy để sử dụng. G nhất trí bán cho Páo 01 gói ma túy với giá 300.000đ thì bị tổ công tác Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A G đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc ma túy, G khai mua của một người đàn ông dân tộc Hmông lạ mặt từ ngày 16/10/2017 với giá 500.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Vàng A G đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy.

Tại biên bản mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định xác định (Bút lục số 07): Gói chất nhựa mầu đen thứ nhất thu giữ của Vàng A G có trọng lượng 0,488 gam, Cơ quan điều tra đã lấy 0,15 gam (ký hiệu G) gửi giám định; Gói chất nhựa mầu đen thứ hai thu giữ của Vàng A G có trọng lượng 1,471 gam, lấy 0,25 gam (ký hiệu G2) gửi giám định. Gói chất nhựa mầu đen thu giữ của Sồng A Páo có trọng lượng 0,815 gam. Cơ quan điều tra đã lấy 0,15 gam (ký hiệu P) gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 983/KLMT ngày 25/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận (Bút lục số 11):

Mẫu gửi giám định ký hiệu P, G, G2 là chất ma túy; loại thuốc phiện; trọng lượng mẫu gửi giám định là: G = 0,15gam, G2 = 0,25 gam, P = 0,15 gam.

Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 2,774gam, loại thuốc phiện.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Cơ quan điều tra và Phòng kỹ thuật hình sự nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 85/KSĐT-MT ngày 15/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Vàng A G về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vàng A G từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 41 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 2,224 gam thuốc phiện vật chứng còn lại sau giám định; 01 bộ bàn đèn (gồm 01 ống hút, 01 bật lửa, 01 đèn dầu, 01 kim châm và 01 chén) và 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng.

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của Vàng A G do phạm tội mà có.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vàng A G nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.

Lời khai của người làm chứng Sồng A Páo tại cơ quan điều tra thống nhất với lời khai của bị cáo G về hành vi mua bán ma túy giữa Páo và G.

Kết thúc tranh luận, bị cáo G trình bày lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Vàng A G khai nhận đã bán ma túy cho Sồng A Páo, mục đích để kiếm lời. Lời khai nhận của bị cáo G còn được chứng minh bởi những tài liệu, chứng cứ sau đây: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng (bút lục 01-05), biên bản khám xét và các biên bản ghi lời khai của Sồng A Páo tại cơ quan điều tra (bút lục 42-54) đều thể hiện gói ma túy cơ quan công an thu giữ của Páo là do Páo mua của G. Ngoài ra còn thu giữ tại nhà của G 02 gói ma túy. Từ những phân tích đánh giá các chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vàng A G đã bán cho Sồng A Páo một gói ma túy vào ngày 20 tháng 10 năm 2017.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự thì “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Theo tiểu mục 3.3 mục 3 phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây: a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác …..;

Như vậy, hành vi mua thuốc phiện rồi bán lại cho người khác của Vàng A G đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trọng lượng thuốc phiện Vàng A G phải chịu trách nhiệm là 2,774gam.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi nhuận, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc ít người, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, làm nghề lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn, bản thân nghiện ma túy. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn (Bút lục số 59).

Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản.

[4] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 2,224 gam thuốc phiện, giấy nilon và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu (đựng trong phong bì đã niêm phong) vật chứng còn lại sau giám định; 01 bộ bàn đèn (gồm 01 ống hút, 01 bật lửa, 01 đèn dầu, 01 kim châm và 01 chén) và 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng là vật cấm lưu hành, vật không có giá trị.

Căn cứ các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000đ, thu giữ của Vàng A G, là tiền do bị cáo phạm tội mà có, Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Sồng A Páo là đối tượng nghiện ma túy, đã mua của bị cáo G 01 gói ma túy, mục đích để sử dụng. Trọng lượng gói ma túy là 0,815 gam, loại thuốc phiện. Do trọng lượng ma túy thu giữ của Páo dưới 1 gam nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với Sồng A Páo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo G, bị cáo không biết tên, địa chỉ. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo Vàng A G đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

[6] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Vàng A G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Vàng A G 2 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 10 năm 2017 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ).

[2] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Căn cứ các điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; các điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 2,224 gam thuốc phiện, giấy nilon và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu (đựng trong phong bì đã niêm phong) vật chứng còn lại sau giám định; 01 bộ bàn đèn (gồm 01 ống hút, 01 bật lửa, 01 đèn dầu, 01 kim châm và 01 chén) và 01 cân tiểu ly đã qua sử dụng.

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của Vàng A G.(theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 09/BB-GNVC ngày 16/11/2017 giữa cơ quan Công an huyện Phù Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên).

[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Vàng A G phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về