Bản án 121/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 121/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 416/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2019/QĐ-HPT ngày 22/11 /2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 30/12/1992.

Địa chỉ: khổi L,thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An

Nghề nghiệp: Lao động tự do.(Có mặt)

- Bị đơn: Anh Thái Bá H, sinh ngày 19/5/1992.

Trú tại: xóm 8, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An

Nghề nghiệp: làm ruộng. (Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dụng đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Thái Bá H cưới nhau vào tháng 02/2016, trước khi cưới anh chị có quá trình tìm hiểu, hôn nhân trên cơ sở tình yêu và sự tự nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, được sự đồng ý của hai gia đình chứng kiến của xóm làng và bạn bè. Trước khi cưới anh chị đã đến UBND xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An làm thủ tục đăng ký kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 13/2016 ngày 23/2/2016. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không phù hợp, chồng sống gia trưởng sống thiếu tôn trọng vợ thường chửi bới xúc phạm vợ, đánh đập vợ lúc vợ chồng mâu thuẫn. Do mâu thuẫn xẩy ra liên tục trong cuộc sống chung đã gây không khí ngột ngạt ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe của chị H dẫn đến chị H mất hết tình cảm, tình yêu đối với chồng, các bên không thương yêu, quý trọng nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình bạn bè hòa giải, vun vén, nhưng không đưa lại kết quả gì, ngược lại mâu thuẫn xẩy ra ngày càng trầm trọng sau sắc hơn, chị H đã bỏ về bên ngoại sống ly thân cắt đứt các quan hệ đối với anh H kể từ tháng 6 năm 2018 đến nay, từ ngày vợ chồng sống ly thân vợ chồng không liên lạc để níu kéo hôn nhân để mặc hậu quả xẩy ra. Chị Nguyễn Thị H xác định hôn nhân giữa chị và anh Thái Bá H đã đổ vỡ, không thể hàn gắn dù có hòa giải đến đâu thì vợ cũng thể đoàn tụ, mâu thuẫn đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được như mong muốn của các bên, chị H đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh Thái Bá H.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có con 01 con chung cháu Thái Gia H (Giới tính: nữ), sinh ngày 23/8/2016. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung được chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh H không có trách nhiệm gì đối với con chung.Nếu tòa giải quyết cho vợ chồng ly hôn đề nghị tòa giao con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Thái Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án anh Thái Bá H không hợp tác,Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh để lưu tại hồ sơ vụ án. Nhưng căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do chị Nguyễn Thị H cung cấp,cũng như xác minh tình trạng hôn nhân, con chưa thành niên tại địa phương, trình bày của chị H nêu trong đơn khởi kiện, trình bày bản tự khai và trình bày tại phiên tòa thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng cơ bản đúng như chị Nguyễn Thị H đã trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện qui định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh chị Nguyễn Thị H và anh Thái Bá H yêu cầu anh, chị có mặt tại Tòa án để giải quyết, nhưng anh H không chấp hành, không hợp tác. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự, tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có mặt, bị đơn anh Thái Bá H vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Để tiếp tục giải quyết vụ án, Tòa án tiếp tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai cho các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn có mặt, bị đơn anh Thái Bá H tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối bị đơn.

-Về nội dung:

+/ Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Thái Bá H đảm bảo đúng qui định của pháp luật, hôn nhân giữa chị H, anh H là hoàn tự nguyện, trước khi cưới anh chị đã đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Thái Bá H là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H, anh H đã xẩy ra ngày càng trầm trọng và sâu sắc, nguyên nhân chủ yếu là do hai bên tìm hiểu nhay không kỷ, sau khi sống chung vợ chồng không tìm được sự hòa hợp trong hôn nhân, anh Thủy có lối sống gia trưởng áp đặt, nên vợ chồng đã có những lời nói, xử sự hành động không đúng mực đối với nhau dẫn đến vợ chồng mất tình cảm, hôn nhân đổ vỡ. Vợ chồng đã sống ly thân hơn hai năm, sau khi các bên sống ly thân vợ chồng đều không có ý thức níu kéo hôn nhân để đoàn tụ mà đã cắt đứt các quan hệ vợ chồng, không thương yêu quan tâm đến nhau nữa. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị Mai, anh Thủy đã thực sự đổ vỡ, tan rã không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Hồ Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phan Đình Thủy là có căn cứ, cần xử chấp nhận yêu cầu của chị.

+/Về quan hệ con chung: Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung của vợ chồng cháu Phan Ánh Tình ( Giới tính: nữ), sinh ngày 01/4/2012 được anh Phan Đình Thủy trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh đã nuôi, dạy con tốt thể hiện người bố có trách nhiệm cao đối với con chung, con chung có nguyện vọng được sinh sống trực tiếp với bố, nay chị Mai đề nghị giao con chung cho anh Thủy được trực tiếp nuôi dưỡng là đúng, đảm bảo quyền lợi con chung của vợ chồng, nên cần chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Hồ Thị Mai.

-Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Hồ Thị Mai tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phan Đình Thủy mỗi tháng 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) là tự nguyện, đúng pháp luật, nên cần chấp nhận sự tự nguyện về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị Hồ Thị Mai.

+/Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết, nên miễn xét.

+/ Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56, 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Xử:

1.Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Thái Bá H.

2.Về quan hệ con chung: Giao con chung cháu Thái Gia H(Giới tính: nữ), sinh ngày 23/8/2016 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến lúc con chung đủ tuổi trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Thái Văn H cho đến lúc có yêu cầu.

Anh Thái Văn H người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3.Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được tính trừ 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ly hôn chị đã nộp theo biên lai số: 0000117 ngày 02/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt.

“Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 121/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:121/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về