Bản án 121/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 121/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xétxử số 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16/4/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Xa K (G), sinh năm 1990. Trú tại: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1987. Trú tại: ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

 (Chị K có mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn ly hôn, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị Xa K trình bày và yêu cầu:

Về hôn nhân: Chị K và anh T chung sống với nhau vào năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T theo giấy chứng nhận số 85 ngày 03/10/2016. Đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do anh T thường xuyên rượu chè, có quan hệ tình cảm người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 8/2018 đến nay, chị K cho rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Chị K không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

*  Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T đã được Tòa án thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng vắng mặt không có lý do, nên không thể hiện được ý kiến anh T đối với yêu cầu của chị K trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ kết quả tranh tụng và các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän định:

 [1] Xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là Ly hôn được quy định tại Khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

 [3] Xét về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Xa K và anh Nguyễn Ngọc T là hợp pháp. Quá trình sống chung do anh T thường xuyên rượu chè, có quan hệ tình cảm người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Đối với anh T cố tình vắng mặt nên không thể hiện ý kiến của anh trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, chị K và anh T ly thân từ tháng 8/2018 đến nay, anh chị không cùng nhau khắc phục, mà để việc ly thân kéo dài. Điều này chứng tỏ về tình cảm giữa chị K và anh T đã mâu thuẩn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị K yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K.

 [4] Về con chung: Không có.

 [5] Về tài sản chung: Chị K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [6] Về nợ chung: Chị K trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì chị K phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 19, Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Xa K.

1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Xa K được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.

2. Về con chung: Không có.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị Xa K nộp 300.000đ, chị K đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 40063 ngày  20/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây nên đã nộp xongán phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang theo trình tự phúc thẩm, đối với đương sự vắng mặt được tính từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 121/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:121/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Công Tây - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về