Bản án 120/2018/DS-ST ngày 26/09/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 120/2018/DS-ST NGÀY 26/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 160/2018/TLST- DS, ngày 02 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2018/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phan Thành U- sinh năm 1941. Địa chỉ: 32 tổ 2 ấp LT, xã LĐ B, huyện CM, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn:

2.1. Bà Lê Thị L (Lê Thị L), sinh năm 1970; Vắng mặt.

2.2. Ông Võ Văn N, sinh năm 1968; Vắng mặt.

Cùng ngụ: số 03 tổ 01 ấp LQ, xã LK, huyện CM, tỉnh An Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bảng tự khai nguyên đơn Ông Phan Thành U trình bày: Ông có tham gia chơi hụi do bà L (Loan) làm chủ hụi cụ thể:

Dây hụi 2.000.000đồng/tháng khui vào ngày 20/11 âl/2016 gồm 24 hụi viên, ông tham gia 02 phần, chầu được 11 lần là 44.000.000đ.

Đến ngày 17/9âl/2017 bà L tuyên bố ngưng hụi và không giao dịch nữa. Ông có yêu cầu bà Loan trả lại số tiền hụi đã thiếu nhưng bà L cứ hẹn. Giữa bà L và ông N hiện hôn nhân vẫn còn tồn tại, ông bà có con chung và hiện chung sống tại xã Long Kiến. Do đó yêu cầu bà L và ông N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi còn thiếu 44.000.000đ.

Bị đơn bà Lê Thị L (Lê Thị L), ông Võ Văn N đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các phiên hòa giải nhưng ông bà không gửi văn bản ghi ý kiến của ông, bà về các yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thành U cho Tòa án. Nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn và bị đơn có xác lập hợp đồng hụi, nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ, đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1 ]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn là bà L, ông N. Bị đơn có nơi cư ngụ tại xã LK, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung: Ông Phan Thành U khởi kiện yêu cầu bà L ông N trả số tiền hụi còn thiếu chưa chầu là 44.000.000đồng. Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông U. Căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là giấy hụi ngày 20/11âl/2016. Vì vậy ông Phan Thành U khởi kiện yêu cầu trả số tiền hụi còn thiếu là 44.000.000đ là có cơ sở phù hợp với Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường nghĩ nên chấp nhận.

[2.1] Do bà L và ông N là vợ chồng áp dụng Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình buộc bà L ông N có trách nhiệm liên đới trả số tiền hụi cho ông U số tiền 44.000.000đ.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị định 144/2006/CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thành U.

Buộc bà Lê Thị L (Lê Thị L) ông Võ Văn N có trách nhiệm liên đới trả cho ông Phan Thành U số tiền 44.000.000đồng (bốn mươi bốn triệu đồng).

Án phí DSST: Bà Lê Thị L (Lê Thị L) ông Võ Văn N phải chịu là 2.200.000đ (hai triệu hai trăm ngàn đồng).

Ông Phan Thành U không phải chịu án phí.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Lê Thị L (Lê Thị L) ông Võ Văn N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 120/2018/DS-ST ngày 26/09/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:120/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về