Bản án 119/2018/HNGĐ-ST ngày 25/06/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 119/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 252/2018/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Ngọc G sinh năm 1978 (có mặt) Trú tại: ấp TT, xã Khánh H, huyện TVTi, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn L sinh năm 1977 (vắng mặt) Trú tại: ấp TT, xã Khánh H, huyện TVTi, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10-4-2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Chị Đỗ Ngọc G trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2002 Chị G và Anh L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh H, huyện TVT, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Anh L không quan tâm, chăm sóc vợ con. Hai người đã ly thân gần 01 năm nay. Tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn nên Chị G yêu cầu ly hôn với Anh L.

Về nuôi con chung: Chị G và Anh L có 02 người con chung là Bùi Trọng Nhân – sinh ngày 13/3/2002 và Bùi Trọng Tính - sinh ngày 15-10-2004, đangsống với Chị G. Khi ly hôn, Chị G yêu cầu được nuôi con theo nguyện vọng của các con, không yêu cầu Anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho Anh Bùi Văn L đúng theo quy định pháp luật nhưng Anh L từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và không có văn bản thể hiện ý kiến của mình gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Bùi Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Anh L.

 [2] Về hôn nhân: Chị Đỗ Ngọc G và Anh Bùi Văn L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo Chị G trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau. Anh L không quan tâm, chăm sóc vợ con. Hai người đã ly thân gần 01 năm nay mà không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Về phía Anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Điều đó cho thấy Anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm cùng với Chị G. Tại phiên tòa, Chị G kiên quyết ly hôn với Anh L. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa Chị G và Anh L không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị Đỗ Ngọc G được ly hôn với Anh Bùi Văn L.

 [3] Về nuôi con chung: Chị G và Anh L có 02 người con chung là Bùi Trọng Nhân– sinh ngày 13-3-2002 và Bùi Trọng Tính – sinh ngày 15-10-2004, đang sống với Chị G. Khi ly hôn, Chị G yêu cầu được nuôi con theo nguyện vọng của các con. Tòa án đã làm việc hai cháu Nhân và Tính đều có nguyện vọng sống với Chị G. Do đó Hội đồng xét xử giao hai cháu Nhân và Tính cho Chị G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con, mặc dù Chị G đã được Tòa án giải thích về việc cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, Chị G xác định có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu Anh L cấp dưỡng cho con. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

 [4] Về chia tài sản và nợ chung: Chị G xác định không có nên không xem xét.

 [5] Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; CácĐiều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Chị Đỗ Ngọc G và Bùi Văn Lùn.

2. Về nuôi con chung: Giao 02 người con chung là Bùi Trọng Nhân – sinh ngày 13-3-2002 và Bùi Trọng Tính – sinh ngày 15-10-2004 cho Chị G trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản và nợ chung: Chị G xác định không có nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đìnhsơ thẩm. Ngày 11-4-2018, Chị G đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008041 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Án xử sơ thẩm nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự cóquyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 119/2018/HNGĐ-ST ngày 25/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:119/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về