Bản án 119/2018/HNGĐ-ST ngày 22/06/2018 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 119/2018/HNGĐ-ST NGÀY 22/06/2018 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 22 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 221/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018 về “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2018/QĐXX-ST ngày 31 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ D sinh năm: 1997

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang

2. Bị đơn: Anh Vƣơng Đình T sinh năm: 1989

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang

(Chị D có mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn là chị Lê Thị Mỹ D trình bày: Chị và anh Vương Đình T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không quan tâm gia đình, tính tình thay đổi nên chị và anh T không còn chung sống với nhau từ đó đến nay không có hàn gắn tình cảm. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: chị và anh T có 01 con chung tên Vương Thị Tú A, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2015 hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Vương Đình T đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh T không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị D.

Tại phiên tòa chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên, anh T đã được Tòa án nhân dân huyện C triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T là phù hợp điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Lê Thị Mỹ D và anh Vương Đình T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2013 đến ngày 09 tháng 6 năm 2015 được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên trong quá trình chung sống chị D trình bày vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không quan tâm gia đình, thường xuyên cờ bạc, chị và cha mẹ chồng khuyên nhưng anh T không nghe. Còn anh T thì vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần xem như anh từ bỏ quyền trình bày để bảo vệ quyền lợi cho mình chứng tỏ anh T không quan tâm đến quan hệ vợ chồng. Mặt khác chị D và anh T có thời gian dài không còn chung sống với nhau cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị D ly hôn với anh T là phù hợp điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Chị D và anh T có 01 con chung tên Vương Thị Tú A, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2015 hiện đang sống với chị D. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, anh T vắng mặt nên không có ý kiến về việc nuôi con chung. Xét thấy cháu A còn nhỏ, hiện đang sống với chị D đã lâu dài và ổn định, cần tránh sự xáo trộn cuộc sống của cháu A, do đó cần giao cháu A cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Mỹ D và anh Vương Đình T.

2. Về nuôi con chung:

- Giao 01 con chung tên Vương Thị Tú A, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2015 cho chị Lê Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng.

- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Vương Đình T do chị D không yêu cầu.

- Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Nếu anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì chị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với anh T.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Mỹ D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 08423 ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. 

5. Về quyền kháng cáo: Chị D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với anh T thời hạn kháng cáo trên được tính kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 119/2018/HNGĐ-ST ngày 22/06/2018 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:119/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về