Bản án 1184/2007/KDTM-PT ngày 16/10/2007 về việc tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1184/2007/KDTM-PT NGÀY 16/10/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN 

Trong các ngày 10 tháng 10 và 16 tháng 10 năm 2007 tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/KTPT ngày 24/10/2006 về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/KDTM ngày 21/09/2006 của Toà án nhân dân quận 11 bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1822/2007/QĐPT-KDTM ngày 25 tháng 9 năm 2007, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn

Địa chỉ: 123 Nguyễn Đình Chiểu, phường 6, quận 3, TPHCM.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hồ Ngọc Minh làm đại diện theo giấy ủy quyền số 856/TCT-GUQ ngày 15/8/2007.

2. Bị đơn: Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật

Địa chỉ: 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11, TPHCM.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế Linh làm đại diện theo giấy ủy quyền không số ngày 17/11/2006.

NHẬN THẤY

Theo án sơ thẩm:

Theo nguyên đơn trình bày: Ngày 29/11/2002 Công ty kho bãi TPHCM trực thuộc Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn ký với Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật hợp đồng cho thuê kho số 56/TP/78/HĐ-2002 với nội dung Công ty kho bãi TP.HCM cho Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật thuê kho số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11, thời hạn thuê từ ngày 01/12/2002 đến hết ngày 01/12/2009. Theo điểm c, điều 4.1 của hợp đồng thì hợp đồng chấm dứt khi có quyết định thu hồi lại kho bãi của cơ quan có thẩm quyền Nhà nứơc Việt Nam và mọi thiệt hại kinh tế phát sinh nếu có mổi bên tự gánh chịu.

Căn cứ công văn số 6814/UBND-ĐT ngày 24/10/2005 của UBND TP.HCM và thông báo số 791/TB-VP ngày 23/11/2005 của Văn phòng Hội đồng nhân dân và UBND TP.HCM về việc thu hồi và bàn giao mặt bằng số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11 cho Ủy ban nhân dân quận 11, ngày 28/10/2005 Công ty kho bãi TP.HCM gửi công văn số 618/KHKĐ thông báo việc Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật bàn giao mặt bằng vào ngày 27/12/2005 nhưng Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật không bàn giao.

Ngày 21/3/2006 bằng đơn kiện số 201/KHKD Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật phải bàn giao mặt bằng nói trên đồng thời trả hết tiền thuê kho còn nợ từ tháng 3/2006 đến 9/2006 là 79.996.252đ00 và cho đến khi thực bàn giao mặt bằng.

Ý kiến bị đơn, Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật:

- Việc nguyên đơn khởi kiện dựa trên một văn bản là không hợp lý. Yêu cầu được tiếp tục thuê mặt bằng nói trên cho đến hết ngày 01/12/2009;

- Trong trường hợp Tòa án xử buộc Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật phải trả mặt bằng kho trước thời hạn 01/12/2009, Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật không yêu cầu Tổng công ty Địa ốc Sài Gòn trả lại tiền đầu tư cải tạo mặt bằng.

- Công ty Rực Nhật đồng ý thanh toán tiền thuê kho bãi nhưng Công ty kho bãi không thu. Nay Công ty đề nghị Toà không tính án phí phần tiền thuê chưa thanh toán.

Tại bản án số 19/2006/KDTM ngày 21/9/2006, toà án cấp sơ thẩm đã tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu của Tổng công ty địa ốc Sài Gòn về việc đòi công ty TNHH SX-TM Rực Nhật trả lại cho Công ty Kho bãi TP.HCM toàn bộ mặt bằng kho bãi số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11 và trả tiền thuê mặt bằng từ tháng 3/2006 đến tháng 9/2006.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê kho bãi số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11 đến ngày 01/12/2009.

3. Chấm dứt việc thực hiện hợp đồng thuê kho bãi số 56/TP/78/HĐ-2002 ngày 29/11/2002 ký giữa Công ty kho bãi TP.HCM và Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật khi bản án có hiệu lực pháp luật.

4. Buộc Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật trả lại cho Công ty kho bãi TP.HCM toàn bộ mặt bằng kho bãi số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11 khi bản án có hiệu lực pháp luật và không được tháo dỡ tài sản liên quan đến mặt bằng kho 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11.

5. Buộc công ty TNHH SX-TM Rực Nhật trả tiền thuê mặt bằng từ tháng 3/2006 đến tháng 9/2006 là 79.996.252đ00 khi bản án có hiệu lực pháp luật.

6. Các đương sự thực hiện việc giao nhận tiền, kho bãi có sự chứng kiến của Thi hành án dân sự quận 11.

Án phí kinh tế sơ thẩm:

Bị đơn chịu 4.460.105đ00. Bị đơn đã nộp tạm ứng án phí là 14.250.000 nên được nhận lại 9.789.895đ00.

Nguyên đơn được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ngoài ra, án còn tuyên quyền và trách nhiệm thi hành án.

Ngày 27/9/2006 Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật kháng cáo bản án, yêu cầu được tiếp tục thuê mặt bằng như hợp đồng qui định với lý do các văn bản mà nguyên đơn dẫn chiếu do UBND TP.HCM ban hành không phải là quyết định thu hồi mặt bằng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong khi hợp đồng qui định phải có quyết định thu hồi lại kho bãi của cơ quan có thẩm quyền Nhà nước Việt Nam.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ý kiến của Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật: Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu được tiếp tục thuê mặt bằng cho đến hết hiệu lực của hợp đồng.

Ý kiến của Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TP.HCM): không chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu phải trả ngay mặt bằng như nội dung công văn của UBND TP.HCM số 6814/UBND-ĐT ngày 24/10/2005 về việc thu hồi và bàn giao mặt bằng số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật về việc yêu cầu được tiếp tục thuê mặt bằng như hợp đồng qui định với lý do các văn bản mà nguyên đơn dẫn chiếu do UBND TP.HCM ban hành không phải là quyết định thu hồi mặt bằng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như hợp đồng qui định, Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Xét thấy, theo điều 3.1.4 của hợp đồng số 56/TP/78/HĐ-2002 ngày 29/11/2002 qui định ”Trường hợp phải thu hồi lại kho bãi trước thời hạn hợp đồng theo yêu cầu của các cấp có thẩm quyền thì bên A phải thông báo bằng văn bản cho bên B biết trước 60 ngày”. Ngày 28/10/2005 công ty kho bãi TP.HCM gửi công văn số 618/KHKĐ thông báo việc Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật bàn giao mặt bằng vào ngày 27/12/2005 sau khi UBND TP.HCM ban hành văn bản số 6814/UBND-ĐT ngày 24/10/2005 về việc thu hồi và bàn giao mặt bằng số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11 cho Ủy ban nhân dân quận 11 là nguyên đơn đã thực hiện đúng ý chí của các bên được thể hiện trong hợp đồng. Mặt khác, trong biên bản làm việc ngày 27/12/2005 giữa 2 bên, bị đơn cũng xác nhận và cam kết: “Công ty cũng đang chuẩn bị mặt bằng để di dời, đồng thời hiện nay đang là cao điểm của mùa kinh doanh. Nếu bàn giao ngay sẽ gây khó khăn và thiệt hại về hàng hoá kinh doanh của công ty. Công ty sẽ tuân thủ quyết định của UBND TP. Kính xin gia hạn đến ngày 27/02/2006 để hỗ trợ cho công ty trong việc bàn giao mặt bằng thuận lợi hơn”. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện của bị đơn cũng xác nhận bị đơn đồng ý thực hiện theo cam kết tại biên bản ngày 27/12/2005 này. Đồng thời, ngày 04/6/2007 bằng văn bản số 3349/UBND-ĐT UBND TPHCM gửi TAND TP.HCM, khẳng định rõ ”UBND TP.HCM có chủ trương thu hồi mặt bằng số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11”. Như thế, việc nguyên đơn yêu cầu chấm dứt trước thời hạn đối với việc thực hiện hợp đồng thuê kho bãi số 56/TP/78/HĐ-2002 ngày 29/11/2002 ký giữa Công ty kho bãi TP.HCM và công ty TNHH SX-TM Rực Nhật và bị đơn phải bàn giao cho nguyên đơn toàn bộ mặt bằng kho bãi số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11 là do có yêu cầu của cơ quan chức năng có thẩm quyền, phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng cũng như cam kết của bị đơn tại biên bản ngày 27/12/2005 nên yêu cầu này cần được chấp nhận; Do đó không thể chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Xét, cho đến thời điểm xét xử phúc thẩm, bị đơn vẫn sử dụng mặt bằng để kinh doanh nên bị đơn vẫn phải tiếp tục trả tiền thuê mặt bằng cho đến ngày xét xử phúc thẩm; Tiền thuê kho bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn tính từ 03/2006 đến ngày 16/10/2007 là: 11.428.036đ00 x 18 tháng 16 ngày = 211.704.648đ00

Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử cho các bên chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nhưng không xử lý số tiền 15.611.398đ00 là tiền bị đơn nộp cho nguyên đơn theo thỏa thuận của các bên tại điều 1.3 của hợp đồng để thực hiện hợp đồng. Đây là thiếu sót của cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm các bên xác nhận bị đơn đã nộp và nguyên đơn đã nhận 15.611.398đ00 như hợp đổng qui định. Đồng thời, các bên cũng thỏa thuận số tiền này được trừ vào số tiền thuê kho mà bị đơn chưa trả cho nguyên đơn nên thỏa thuận này cần được chấp nhận. Như vậy, sau khi khấu trừ, bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn: 211.704.648đ00 - 15.611.398đ00 = 196.093.250đ00.

Ngòai ra, từ ngày 17/10/2007 cho đến khi thực tế hai bên giao nhận lại mặt bằng, bị đơn còn phải trả tiền thuê kho bãi cho nguyên đơn theo giá của hợp đồng là 11.428.036đ00 /tháng.

Về án phí sơ thẩm:

Trong biên bản phiên toà sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn đều nêu bị đơn không vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê kho, thực hiện trả tiền thuê theo đúng hợp đồng qui định. Cũng tại biên bản phiên toà sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn xác nhận, kể từ tháng 3/2006 nguyên đơn thực hiện chủ trương không thu tiền thuê kho do bị đơn nộp vì theo quan điểm của nguyên đơn nếu thu tiền thuê kho có nghĩa là nguyên đơn chấp nhận việc tiếp tục thực hiện hợp đồng. Như vậy, bị đơn không có lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê kho, và đây cũng không phải là yêu cầu của bị đơn mà không được Tòa chấp nhận như qui định của Bộ luật tố tụng dân sự cũng như Nghị định 70/CP ngày 12/06/1997 của Chính Phủ, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bị đơn phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm trên khoản tiền này là không hợp lý. Vì vậy, cần được sửa lại, bị đơn không phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm trên số tiền thuê kho phải trả cho nguyên đơn.

Do phải trả lại mặt bằng kho cho nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm không có giá ngạch. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên khoản án phí này 50.000đ00 là không đúng với qui định của pháp luật về mức án phí phí Toà án được qui định tại khoản 1 điều 15 Nghị định 70/CP ngày 12/06/1997 của Chính Phủ, nên cần được sửa lại. An phí kinh tế sơ thẩm mà bị đơn phải chịu không có giá ngạch là 500.000đ00.

Về án phí phúc thẩm: do sửa bản án kinh tế sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí kinh tế phúc thẩm.

Cấp sơ thẩm khi lập thủ tục chuyển hồ sơ kháng cáo của bị đơn đã thông báo cho người kháng cáo đóng tạm ứng án phí phúc thẩm là 50.000đ00 là không phù hợp với qui định của pháp luật tại khoản 2 điều 17 Nghị định 70/CP ngày 12/06/1997 của Chính Phủ.

Do sửa án sơ thẩm nn các bên không phải chịu án phí kinh tế phúc thẩm.

Hợp đồng các bên tranh chấp mà Toà án đang giải quyết được ký kết năm 2002 nhưng Toà án cấp sơ thẩm khi giải quyết lại áp dụng luật thương mại năm 2006 là không phù hợp.

Vì các lẽ nêu trên,

Căn cứ điều 131, khoản 2 Điều 275, 276 và 279 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điều 476, 486,487, 488 Bộ Luật dân sự năm 1995;

Căn cứ điều 15 Nghị định 70/CP ngày 12/06/1997 của Chính Phủ;

Căn cứ điểm 1, mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TAND TC – VKSND TC – Bộ Tư pháp – Bộ Tài Chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản;

QUYẾT ĐỊNH

Sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật về việc yêu cầu được tiếp tục thuê kho bãi số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11, TP.HCM.

2. Chấm dứt hợp đồng thuê kho bãi số 56/TP/78/HĐ-2002 ngày 29/11/2002 ký giữa Công ty kho bãi Tp.HCM và Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật trước thời hạn. Buộc Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật phải bàn giao toàn bộ mặt bằng kho bãi số 209 ABC Lý Nam Đế, phường 7, quận 11, TP.HCM và thanh toán 211.704.648đ00 tiền thuê kho còn nợ tính đến ngày 16/10/2007 cho Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TP.HCM).

Ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên về việc Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TP.HCM) trả lại cho Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật tiền đảm bảo thực hiện hợp đồng là 15.611.398đ00.

Khấu trừ hai khoản thì Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật phải trả cho Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TP.HCM) là 196.093.250đ00.

Kể từ ngày 17/10/2007 cho đến khi thực tế hai bên giao nhận lại mặt bằng, Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật còn phải trả tiền thuê kho bãi cho Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TP.HCM) theo giá của hợp đồng là 11.428.036đ00/tháng.

3. Trách nhiệm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

4. Về án phí:

Về án phí sơ thẩm:

- Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật phải chịu án phí kinh tế sơ thẩm là 500.000đ00. Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật đã nộp 14.250.000đ00 là tiền tạm ứng án phí kinh tế sơ thẩm theo biên lai thu số 005425 ngày 18/7/2006 của Thi hành án dân sự quận 11, TP.HCM nên được nhận lại 13.750.000đ00.

- Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TP.HCM) được nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí kinh tế sơ thẩm là 857.000đ00 theo biên lai thu số 005283 ngày 31/5/2006 và 50.000đ00 theo biên lai thu số 005087 ngày 29/3/2006 của Thi hành án dân sự quận 11, TP.HCM.

Về án phí phúc thẩm: Công ty TNHH SX-TM Rực Nhật được nhận lại 50.000đ00 tiền tạm ứng án phí kinh tế phúc thẩm theo biên lai thu số 005526 ngày 29/9/2006 của Thi hành án dân sự quận 11, TP.HCM.

Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay./.


200
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về