Bản án 118/2019/HS-ST ngày 21/10/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

 BẢN ÁN 118/2019/HS-ST NGÀY 21/10/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

TRẦN KHÁNH D; sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: đường H, Phường Y, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giao hàng; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang V và con bà: Bùi Thị N; vợ, con: không có; tiền án: không; tiền sự: ngày 18/10/2016, Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Chấp hành xong ngày 15/8/2018. Tạm giữ, tạm giam: 06/02/2019. (Có mặt)

- Bị hại: Anh Phạm Cẩm T – sinh năm 1982; HKTT: xã G, huyện T, Nam Định; Địa chỉ tạm trú: đường S, Phường K, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 06/02/2019, Trần Khánh D điều khiển xe gắn máy biển số: 65V1 - 1102 từ nhà bà ngoại ở Quận 10 về nhà tại quận Tân Bình. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe gắn máy đến ngã tư hẻm 72 Nhất Chi Mai – hẻm 622 Cộng Hòa, Phường 13, quận Tân Bình phát hiện anh Phạm Cẩm T đang dừng xe gắn máy tại góc ngã tư, cách lề đường khoảng 02m, trên tay sử dụng điện thoại động, D liền nảy sinh ý định giật điện thoại và điều khiển xe gắn máy từ phía sau lên áp sát bên phải anh T rồi dùng tay trái giật điện thoại di động sau đó tăng ga bỏ chạy, anh T tri hô. D tiếp tục điều khiển xe rẽ phải khi đến trước nhà số 58/10 đường C12, Phường 13, quận Tân Bình thì bị người dân đạp ngã xe, bắt giữ giao cho Công an Phường 13, quận Tân Bình.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Sony Xperia XA1 Plus màu đen, anh Phạm Cẩm T đã nhận lại và không yêu cầu gì.

Kết luận định giá số 192/HĐĐGTS-TTHS ngày 22/8/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự điện thoại di động hiệu Sony Xperia XA1 Plus màu đen trị giá 1.500.000 đồng.

Thu của Trần Khánh D: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 206; 01 Túi xách; 01 nón kết; 01 áo sơ mi trắng sọc đen; 01 quần kaki màu trắng; 01 xe gắn máy biển số 65V1 - 1102. Kết quả xác minh xe do Phạm Văn P đứng tên đăng ký, anh P cho biết đã bán xe vào năm 2010, khi bán xe chỉ viết giấy mua bán tay và hiện nay không biết người mua xe ở đâu. Trần Khánh D khai nhận mua xe trên vào năm 2018 với giá 5.000.000 đồng tại một cửa hàng ở quận Bình Tân (không nhớ địa chỉ), không làm thủ tục sang tên.

Quá trình điều tra Trần Khánh D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 120/CTr-VKS ngày 17 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trần Khánh D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Khánh D từ 04 năm đến 05 năm tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời bị cáo khai nhận, do thấy anh T sử dụng điện thoại bị cáo nảy sinh lòng tham đã thực hiện hành vi cướp giật như cáo trạng đã nêu.

Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Khánh D, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Khánh D có hành vi điều khiển xe gắn máy áp sát rồi công khai giật điện thoại di động hiệu Sony Xperia XA1 Plus màu đen trị giá 1.500.000 đồng của anh Phạm Cẩm T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất táo bạo, liều lĩnh ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác ngay trên đường phố nơi đông người và dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe gắn máy phân khối lớn, là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội, tiềm ẩn nguy cơ dễ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại và những người đang lưu thông trên đường. Xét về tính chất vụ án là nghiêm trọng, bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Xét nhân thân bị cáo là xấu (năm 2014 đã bị xử phạt 03 năm tù về tội cướp giật tài sản), năm 2016 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng về hành vi sử dụng ma tuý. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi, trả lại cho bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 206; 01 Túi xách; 01 nón kết; 01 áo sơ mi trắng sọc đen; 01 quần kaki màu trắng. Xét đây là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo yêu cầu xin nhận lại nên Hội đồng xét xử thống nhất trả lại cho bị cáo.

- 01 xe gắn máy biển số 65V1 – 1102 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng một thời gian nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu nên bị cáo không phải chịu trách nhiệm dân sự.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Khánh D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Trần Khánh D 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/02/2019.

[2] Trả lại cho bị cáo Trần Khánh D: 01 điện thoại di động Nokia 206; 01 Túi xách; 01 nón kết; 01 áo sơ mi trắng sọc đen; 01 quần kaki màu trắng.

- Giao chiếc xe máy biển số 65V1-1102, số khung: RMEWCHMME8A 108707, số máy: VWE152FMH-C108707 cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau 01 năm nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 150/PNK ngày 30/8/2019 của Công an quận Tân Bình.

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[4] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 118/2019/HS-ST ngày 21/10/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:118/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về