Bản án 118/2018/HS-PT ngày 04/04/2018 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 118/2018/HS-PT NGÀY 04/04/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 04 tháng 4 năm 2018, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2018/HSPT ngày 09/02/2018 đối với bị các bị cáo Phạm Văn Tr và Nguyễn Trung T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS do kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 01/2018/HSST ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Văn Tr. Sinh năm: 1974; nguyên quán: Thành phố Đà Nẵng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã N, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 5/12; con ông Phạm T và bà Phạm Thị N; có vợ là Nguyễn Thị M và 02 con, con lớn sinh năm 1996 và con nhỏ sinh năm 2001; tiền sự: không; tiền án: Ngày 12/11/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 09 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, ngày 29/9/2015 chấp hành xong hình phạt. Nhân thân: Ngày 29/9/1990, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”. Ngày 26/8/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/5/2017 đến ngày 18/5/2017 được tại ngoại (Có mặt).

2. Nguyễn Trung T; Sinh năm: 1977; tên thường gọi: Nguyễn Trung Q; nguyên quán: Thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Buôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; tôn giáo: Phật giáo; tiền án, tiền sự: Không; con ông Nguyễn Trung Th (đã chết) và bà Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1948; có vợ là H C, sinh năm 1982 và có 02 con: con lớn sinh năm 2002 và con nhỏ sinh năm 2013. Nhân thân: Ngày 02/01/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xử phạt 24 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Ngày 05/5/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: Cố ý gây thương tích đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2017 đến ngày 18/5/2017 được tại ngoại (Có mặt).

Trong vụ án còn có các bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 11/5/2017, Đặng Văn K đến đám ma nhà người quen ở thôn 12, xã V, huyện K, thì biết một số người ở đây muốn chơi đánh bạc ăn tiền, nên K nảy sinh ý định tổ chức sòng bạc cho các đối tượng đánh để thu “tiền xâu” kiếm lời. K mượn xe mô tô biển số 47M1–470.37 của anh Nguyễn Văn N, trú tại thôn T, xã V, huyện K, đi mua các vật dụng phục vụ việc đánh bạc như: Đĩa sứ, chén nhựa, bạt nilon, đèn pin, ghế nhựa, dây thừng và các con vị bằng tre… Sau đó, K đi đến khu vực rừng keo lá tràm ở thôn H, xã V, huyện K dùng dây thừng căng bạt nilon, treo đèn pin và sắp xếp ghế nhựa, rồi thông báo cho một số người biết địa điểm đánh bạc. Đến 19 giờ cùng ngày, K đi vào địa điểm đánh bạc bật đèn pin lên (loại đèn chiếu sáng sạc điện) và nhờ một đối tượng tên thường gọi là “Ph hồ lì”, làm trung gian để thu và trả tiền thắng thua cho các đối tượng đánh bạc, nhằm tránh việc gian lận trong lúc đánh bạc. Khoảng 30 phút sau, các đối tượng gồm Nguyễn Trung T, Trần Văn A, Nguyễn Văn B, Hoàng Văn Q, Giáp Văn Th, Phạm Văn Tr và một số đối tượng (đang tiếp tục xác minh) đến sòng bạc của Ki để chuẩn bị đánh bạc. Lúc này, T đứng ra cầm cái xóc đĩa cho A, Q, B, Th, Tr và một số đối tượng khác đánh bạc, dưới hình thức chẵn – lẽ ăn thua bằng tiền, mỗi ván người chơi đặt cược mức tối thiểu là 50.000 đồng, mức tối đa không giới hạn, với tỉ lệ thắng thua là “một ăn một”. Khi các đối tượng tập trung đến đánh bạc tại sòng thì Đặng Văn K thu tiền xâu từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng của những đối tượng tham gia đánh bạc và đứng xem, với tổng số tiền xâu K thu được là 1.800.000 đồng. Đến 23 giờ cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang đánh bạc sát phạt nhau thì bị lực lượng Công an huyện Krông Pắc bắt quả tang, thu giữ số tiền 12.650.000 đồng trên chiếu bạc, cùng vật chứng phục vụ cho việc đánh bạc.

Quá trình điều tra đã xác định được, khi đi đánh bạc Giáp Văn Th, điều khiển xe mô tô biển số 47AB – 551.15 (xe của Trạc Văn H, trú tại buôn E, xã V) và mang theo số tiền 1.500.000 đồng, chở Trần Văn A, mang theo số tiền 2.000.000 đồng, Nguyễn Văn B điều khiển xe mô tô biển số 47M1 - 468.91 mượn của anh Lê Văn L, trú tại buôn Kr, xã V và mang theo số tiền 1.010.000 đồng, Hoàng Văn Q mang theo số tiền 2.200.000 đồng, Phạm Văn Tr mang theo số tiền 600.000 đồng và Nguyễn Trung T mang theo số tiền 300.000 đồng, để nhằm mục đích đánh bạc.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2018/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn K, Trần Văn A, Hoàng Văn Q, Nguyễn Văn B, Giáp Văn Th, Phạm Văn Tr, Nguyễn Trung T phạm tội "Đánh bạc".

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017, khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 70 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ 12/5/2017 đến ngày 18/5/2017.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 07 (bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ 12/5/2017 đến ngày 18/5/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/01/2018, bị cáo Phạm Văn Tr kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 22/01/2018, bị cáo Nguyễn Trung T kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn Tr và Nguyễn Trung T và cho rằng Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 là có căn cứ. Xét mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo Phạm Văn Tr và mức hình phạt 07 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Trung T mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy, đề nghị HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 19 giờ, ngày 11 tháng 5 năm 2017, tại khu vực rừng keo lá tràm ở thôn H, xã V, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Đặng Văn K đã tổ chức cho Nguyễn Trung T, Trần Văn A, Hoàng Văn Q, Nguyễn Văn B, Giáp Văn Th, Phạm Văn Tr đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, thì bị Công an huyện Krông Pắc bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 12.650.000đ và 3.810.000đ trên người các bị cáo cùng một số dụng cụ đánh bạc. Trong đó Phạm Văn Tr mang theo số tiền 600.000đ, Nguyễn Trung T mang theo 300.000đ để đánh bạc. Do đó, Toà án nhân huyện Krông Pắc đã xét xử các bị cáo Phạm Văn Tr và Nguyễn Trung T về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo Phạm Văn Tr và 07 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Trung T mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt là có phần nghiêm khắc so với các bị cáo khác, bởi lẽ số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là không lớn, bị cáo Phạm Văn Tr chỉ sử dụng số tiền 600.000đ, bị cáo Nguyễn Trung T sử dụng số tiền 300.000đ để đánh bạc. Các bị cáo khác sử dụng số tiền từ 1.010.000đ đến 2.200.000đ để đánh bạc và bị xử phạt từ 03 tháng đến 03 tháng 10 ngày tù. Hiện tại, hoàn cảnh gia đình các bị cáo đều khó khăn: Bị cáo Nguyễn Trung T có vợ đang đau ốm phải nằm bệnh viện điều trị, bị cáo Phạm Văn Tr có vợ mới sinh con nhỏ, nên các bị cáo đang là lao động chính trong gia đình. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp Đơn xin miễn giảm án phí với lý do thuộc hộ nghèo, cận nghèo và được chính quyền địa phương xác nhận Do đó, cần chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

[3] Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: các bị cáo Phạm Văn Tr và Nguyễn Trung T đều có nhân thân xấu, bị cáo Phạm Văn Tr đang có 01 tiền án về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, nên không đủ điều kiện áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù, việc áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là cần thiết, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo.

[3] Về án phí: Các bị cáo thuộc hộ nghèo và cận nghèo, căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bị cáo Phạm Văn Tr và bị cáo Nguyễn Trung T được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Tr và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung T. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 01/2018/HSST ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc về hình phạt và án phí.

Căn cứ Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017, khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 70 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 12/5/2017 đến ngày 18/5/2017.

Căn cứ Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án,  được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ  ngày 12/5/2017 đến ngày 18/5/2017.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Tr và bị cáo Nguyễn Trung T được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về