Bản án 118/2017/HSST ngày 06/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 118/2017/HSST NGÀY 06/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2017/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Đoàn Văn T, sinh năm 1996; Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Thôn TC, xã HĐ, huyện NG, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Đoàn Văn C, sinh năm 1971 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1999; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Ngày 24/8/2016 Công an huyện Ninh Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 79 đối với Đoàn Văn T (Hình thức phạt tiền) về hành vi: Tàng trữ trái phép 0,023 gam có thành phần là chất Heroin. Ngày 30/8/2016 T chấp hành xong quyết định xử phạt. Đã được xóa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/10/2017 đến ngày 04/10/2017 chuyển tạm giam Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương;

Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Đoàn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Đoàn Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Trước đó, T có quen biết một người đàn ông theo T khai tên là H không rõ địa chỉ. H thường hay đứng ở khu vực chân cầu TT, thuộc địa phận xã ĐT, huyện GL, tỉnh Hải Dương nên biết chỗ bán ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/10/2017, T thuê xe ôm đi từ nhà ở thôn TC, xã HĐ, huyện NG, tỉnh Hải Dương đến khu vực chân cầu TT thì gặp H ở đó. T nhờ H hỏi giúp địa chỉ để mua Heroin đem về sử dụng thì H đồng ý. Tại đây, sau khi gọi điện thoại cho ai đó thì H bảo với T tý nữa đi lên phòng 302 nhà nghỉ HT, ở thôn C, xã PH, huyện GL thì sẽ có người bán ma túy. Khoảng 21 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô của H chở T đến khu vực trước cửa nhà nghỉ HT do chị Mai Thị O là chủ nhà nghỉ. H ở ngoài, T xuống xe và đi lên phòng 302 của nhà nghỉ và mua của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gãi Heroin víi sè tiÒn 500.000 ®ång. Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi mua được Heroin, T đi bộ ra khu vực trước cửa nhà nghỉ để tìm H nhưng không thấy thì bị lực lượng Công an huyện Gia Lộc phối hợp với Công an xã PH, huyện GL phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của T đang cầm 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông có lớp giấy màu trắng, trong lớp giấy có chứa chất bột dạng cục màu trắng. T khai nhận đó là Heroin cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Tại Kết luận giám định số 292/PC54 ngày 03/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục trong niêm phong ghi M thu của Đoàn Văn T, có trọng lượng 0,158 gam (Không phẩy một năm tám gam), là ma túy, là loại Heroin. Chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Hoàn lại đối tượng giám định 0,127g Heroin.

Tại bản cáo trạng số 115/VKS-HS ngày 14/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Đoàn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/10/2017; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Herôin hoàn lại sau giám định (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lộc);

Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu nộp, miễn giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Đoàn Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: “Hồi 21 giờ 15 phút ngày 02/10/2017, tại khu vực thôn C, xã PH, huyện GL, tỉnh Hải Dương, Đoàn Văn T có hành vi cất giấu trái phép trong lòng bàn tay phải 01 gói Heroin có trọng lượng 0,158 gam thì bị phát hiện, bắt quả tang. T cất giấu Heroin với mục đích để sử dụng”. Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Herôin là chất bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng vì bản thân nghiện, nên bị cáo vẫn cố ý mua cất giấu trong người để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Chất ma tuý hay những chất có tính chất kích thích thần kinh khác đều có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Ma túy không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV- AIDS mà còn là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép ma túy ngày 24/8/2016, nên cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết nào tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo T không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội thực hiện một số quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS năm 2015. Khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Đoàn Văn T, HĐXX sẽ xem xét áp dụng khung hình phạt quy định có lợi cho bị cáo theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS năm 2015 là từ 01 năm đến 05 năm, nhẹ hơn so với khung hình phạt tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999 là từ 02 đến 07 năm tù.

Về vật chứng: Đối với toàn bộ số Herôin hoàn lại sau giám định, xét Herôin là chất cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo T khai đã mua của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại Phòng 302, nhà nghỉ HT ở thôn C, xã PH, huyện GL, quá trình điều tra không xác định được là ai, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người đàn ông theo T khai tên là H ở khu vực chân cầu TT, xã ĐT, huyện GL, quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Gia Lộc đã tiến hành xác minh tại xã ĐT, huyện GL thì không ai tên là H có đặc điểm như T khai, nên không làm rõ được đối tượng để xử lý.

Chị Mai Thị O là chủ nhà nghỉ HT không biết việc mua bán ma túy tại nhà nghỉ nên không đặt ra việc xử lý là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và  lệ  phí  số  97/2015/QH13 ngày  25/11/2015;  Điều  23  Nghị  quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đoàn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết số 41/2017QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/10/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Herôin hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì được niêm phong dán kín số 292/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Hưng Yên (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lộc).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễ giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.


50
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về