Bản án 117/2018/LĐ-ST ngày 28/11/2018 về tranh chấp tiền lương

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 117/2018/LĐ-ST NGÀY 28/11/2018 VỀ TRANH CHẤP TIỀN LƯƠNG

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2018/TLST-LĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018 về việc tranh chấp “Tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2018/QĐXXST-LĐ ngày 01/11/2018/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2018/QĐST-LĐ ngày 14 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1968 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Gò Sao, xã Tân Phú, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Công ty cổ phần mía đường HH.

Địa chỉ: Khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nandaa Kumar B.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh Th, sinh năm 1976. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 33/1 đường 11, khu phố 1, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền ngày 13/10/2018).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 08/6/2018 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày như sau:

Bà vào làm việc tại Công ty cổ phần mía đường HH đến năm 2012 ký hợp đồng không xác định thời hạn với mức lương trước khi ngừng việc tại công ty là 3.317.000 đồng/tháng.

Quá trình làm việc tại Công ty, bà đã tham gia đóng bảo hiểm các khoản đầy đủ. Thế nhưng từ tháng 7 năm 2016, Công ty ngưng hoạt động nhưng không chính thức thông báo và cũng không chấm dứt hợp đồng lao động để giải quyết chế độ cho bà theo quy định của Bộ luật lao động.

Nay bà yêu cầu Công ty cổ phần mía đường Hiệp Hòa thanh toán cho bà các khoản tiền lương như sau:

- Lương tháng 01 và 02/2016 chưa thanh toán đầy đủ, số tiền là: 1.048.000đồng (tháng 01) và 2.025.500đồng (tháng 02); tổng cộng là: 2.907.500đồng.

- Lương ngừng việc từ tháng 07/2016 đến tháng 6/2017 (12 tháng) với mức lương là 2.774.000 đồng/tháng. Tổng số tiền lương ngừng việc là 2.774.000 đồng/tháng x 12 tháng = 33.288.000 đồng.

Tổng số tiền lương bà G yêu cầu là 36.195.500đồng. Ngoài ra bà không còn yêu cầu gì khác.

Ngoài ra, tại đơn khởi kiện bà G còn yêu cầu công ty trả tiền cơm, tiền độc hại và các khoản bảo hiểm cho bà. Tại bản tự khai và tại phiên tòa bà G xác định tự nguyện rút lại yêu cầu về tiền cơm, tiền độc hại, các khoản tiền bảo hiểm và trợ cấp thôi việc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, do bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có phản hồi ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với các quy định pháp luật về tiền lương và có lợi cho bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xứ nhận định:

 [1]. Về tố tụng:

Ngày 08 tháng 6 năm 2018, bà Nguyễn Thị G nộp đơn khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH trả tiền lương, tiền cơm, tiền độc hại, tiền bảo hiểm, sau đó bà G tự nguyện rút lại yêu cầu về tiền cơm, tiền độc hại, tiền bảo hiểm, quan hệ tranh chấp là tranh chấp về “Tiền lương” và đã thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động nhưng kết quả hòa giải không thành theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn công ty cổ phần mía đường HH có địa chỉ trụ sở tại khu vực 1, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn công ty cổ phần mía đường HH vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa, bị đơn công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

 [2]. Về yêu cầu khởi kiện:

Bà Nguyễn Thị G yêu cầu Công ty cổ phần mía đường HH trả tiền lương còn nợ của tháng 01 và 02/2016, và lương ngừng việc từ tháng 07/2016 đến tháng 6/2017.

Căn cứ vào hợp đồng lao động không xác định thời hạn ngày 21/12/2012 giữa Công ty cổ phần mía đường HH và bà G (do bà G cung cấp) thấy rằng bà G có làm việc tại Công ty Cổ phần mía đường HH. Căn cứ vào các tài liệu do Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An cung cấp (gồm Danh sách lao động nợ BHXH, BHYT, BHTN công ty cổ phần mía đường Hiệp Hòa ngày 11/9/2017; Bảng kê quá trình mức đóng BHXH, BHTN của người lao động khiếu kiện công ty cổ phần mía đường HH ngày 06/11/2018), có căn cứ xác định bà G vẫn còn làm việc cho Công ty cổ phần mía đường H H tại thời điểm Công ty ngưng hoạt động.

 [2.1]. Bà G có làm việc thực tế vào tháng 01 và tháng 02/2016, nhưng Công ty Cổ phần mía đường HH thanh toán tiền lương cho bà Nguyễn Thị G từ tháng 03 đến tháng 07/2016 mà thanh toán tiền lương tháng 01 và 02/2016 không đầy đủ, là vi phạm nguyên tắc trả lương theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao động. Căn cứ vào Bảng kê quá trình, mức đóng BHXH, BHTN của người lao động khiếu kiện công ty cổ phần mía đường HH do Bảo hiểm xã hội Long An cung cấp thì mức lương tại thời điểm tháng 01, 02 của bà G là 3.317.000 đồng/tháng. Do bị đơn không có lời trình bày nên căn cứ vào lời trình bày của bà G thì số tiền lương mà công ty chưa thanh toán cho bà G là 1.048.000đồng (tháng 01/2016) và 2.025.500đồng (tháng 02/2016); tổng cộng là: 2.907.500đồng, số tiền này là có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

 [2.2]. Từ tháng 7/2016, Công ty ngưng hoạt động nhưng không có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà G mà kéo dài thời gian cho đến nay nên xem như vẫn còn là người lao động của công ty và phải được trả lương theo quy định. Tuy nhiên, do từ tháng 7 năm 2016 công ty đã ngưng hoạt động nên bà chỉ yêu cầu công ty trả lương ngừng việc cho bà. Căn cứ Biên bản kê biên, xử lý tài sản do Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An lập ngày 14/7/2017 thì xác định Công ty cổ phần mía đường HH chính thức ngưng hoạt động kể từ ngày 14/7/2017 nên bà Nguyễn Thị G yêu cầu tính lương ngừng việc từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2017 là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 98 của Bộ luật lao động.

Xét thấy, công ty cổ phần mía đường HH ngừng hoạt động là do gặp khó khăn về kinh tế do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động, tiền lương ngừng việc sẽ do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không thể thỏa thuận, do đó xem xét mức lương ngừng việc bằng mức lương tối thiểu vùng là phù hợp.

Căn cứ Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 14/11/2015 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thì mức lương tối thiểu vùng tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vùng II) từ ngày 01/01/2016 là 3.100.000 đồng/tháng.

Căn cứ Nghị định số 153/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2016 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, thì mức lương tối thiểu vùng tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vùng II) từ ngày 01/01/2017 là 3.320.000 đồng/tháng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, số tiền lương ngừng việc mà bà G yêu cầu công ty trả cho bà là 2.774.000 đồng/tháng; số tiền này thấp hơn so với mức lương tối thiểu vùng, xét thấy việc này phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 98 và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cụ thể tổng số tiền lương ngừng việc bà G yêu cầu là 33.288.000đồng.

Như vậy, tổng số tiền lương công ty cổ phần mía đường HH có trách nhiệm trả cho bà G là 2.907.500đồng (lương tháng 01,02/2016) + 33.288.000đồng (lương ngừng việc) = 36.195.500 đồng.

Bị đơn công ty cổ phần mía đường HH vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, không có bất cứ văn bản nào phản hồi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không thể xem xét ý kiến.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

 [3]. Đối với tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế của người lao động tại công ty cổ phần mía đường HH, do công ty cổ phần mía đường HH không thanh toán các khoản bảo hiểm theo quy định một thời gian dài, ảnh hưởng đến số lượng lớn người lao động tại công ty nên Liên đoàn lao động tỉnh LA đã nộp đơn khởi kiện tranh chấp các khoản tiền bảo hiểm, nguyên đơn cũng có lời trình bày tự nguyện rút yêu cầu về tiền bảo hiểm nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này là phù hợp.

 [4]. Về án phí: Công ty cổ phần mía đường HH phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 483, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 90, 96, 98 Bộ luật Lao động năm 2012;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đối với Công ty cổ phần mía đường HH về việc tranh chấp “Tiền lương”.

Buộc Công ty cổ phần mía đường HH có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị G số tiền lương là 36.195.500 đồng (Ba mươi sáu triệu một trăm chín mươi lăm ngàn năm trăm đồng).

Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Công ty cổ phần mía đường HH

nộp 1.085.865 đồng án phí lao động sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


456
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
        Bản án/Quyết định đang xem

        Bản án 117/2018/LĐ-ST ngày 28/11/2018 về tranh chấp tiền lương

        Số hiệu:117/2018/LĐ-ST
        Cấp xét xử:Phúc thẩm
        Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
        Lĩnh vực:Lao động
        Ngày ban hành:28/11/2018
        Là nguồn của án lệ
          Bản án/Quyết định sơ thẩm
            Án lệ được căn cứ
               
              Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
                Bản án/Quyết định phúc thẩm
                  Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về