Bản án 116/2020/HNGĐ-ST ngày 06/05/2020 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 116/2020/HNGĐ-ST NGÀY 06/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 6 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 2 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 2 năm 2020 giữa các đương sự:

1.Ng uyên đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm: 1988 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 8, ấp Bình P, xã Bình H, huyện C, An Giang.

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 20, ấp Phú H, xã Bình H, huyện C, An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 14/11/2019, nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày:

-Về quan h hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh H kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân do quen biết, tự nguyện sống chung như vợ chồng, không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình H, huyện C, An Giang. Thời gian đầu sau khi kết hôn chị và anh H chung sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng trong cuộc sống, anh H thường uyên uống rượu, quậy phá chửi rủa đánh đập chị, không chí thú làm ăn, không quan tâm chăm lo gia đình vợ con. Vợ chồng luôn bất hòa trong tình cảm vợ chồng, không còn tôn trọng nhau, không còn tin tưởng nhau nữa. Chị đã nộp đơn xin ly hôn anh H đến Tòa án nhưng sau đó chị cho anh H cơ hội hàn gắn nhưng anh Hvẫn không thay đổi, từ năm 2014 vợ chồng anh chị ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng bị rạn nứt do mâu thuẫn ngày càng nhiều, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

- Về con chung: có 02 (hai) con chung tên: Nguyễn Anh Hùng D, sinh năm 2005, và cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2007. Hiện cháu D và cháu N đang sống với chị H. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lý thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Thanh H vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị H. Tòa án cũng tiến hành ác minh lại sự vắng mặt của anh Htại địa phương. Qua ác minh tại địa phương thì anh H hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở tổ 20, ấp Phú H, xã Bình H, huyện C, An Giang, nhưng anh H vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai lại được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan.Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H ly hôn với anh H. Về con chung: Đề nghị giao cháu D, cháu N cho chị H nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thanh H là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lý đến lần thứ hai nhưng anh Hvẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Võ Thị H và anh Nguyễn Thanh H theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan h hôn nhân: Chị Võ Thị H và anh Nguyễn Thanh H kết hôn vào năm 2004, hôn nhân do quen biết, có tổ chức cưới nhưng có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo v .

Theo đơn chị H trình bày thời gian đầu sau khi kết hôn chị và anh H chung sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng trong cuộc sống, anh H sinh ra ăn chơi, không chí thú làm ăn, không quan tâm chăm lo gia đình vợ con. Vợ chồng luôn bất hòa trong tình cảm vợ chồng, không còn tôn trọng nhau, không còn tin tưởng nhau nữa. Chị đã nộp đơn xin ly hôn anh H đến Tòa án nhưng sau đó chị cho anh H cơ hội hàn gắn nhưng anh Hvẫn không thay đổi, từ năm 2014 vợ chồng anh chị ly thân cho đến nay. Xét thấy với thời gian ngắn chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc d Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh H cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị H. Tại phiên tòa hôm nay chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị H và anh Hkhông thể k o dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là hoàn toàn ph hợp với quy định tại điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2]Về con chung: có 02(hai) con chung tên: Nguyễn Anh Hùng D, sinh năm 2005, và cháu Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2007. hiện cháu D và cháu N đang sống với chị H. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 20/2/2020 cháu D và cháu N cũng có nguyện vọng sống với chị H, cuộc sống của các cháu cũng ổn định. Do đó để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các cháu, nghĩ nên để chị H được tiếp tục nuôi cháu Dũng và cháu Ngân là ph hợp. Anh H thì không cấp dưỡng nuôi con. Chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhau được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh thực hiện quyền này.

[2.3] Về tài sản và nợ chung: Chị Võ Thị H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của Chị Võ Thị H được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xxin ly hôn của chị Võ Thị H.

Cho ly hôn giữa chị Võ Thị H và anh Nguyễn Thanh H Giấy chứng nhận kết hôn số: 193/KH, ngày 3/12/2007 của Ủy ban nhân dân ã Bình H , huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về nuôi con chung: Chị Võ Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Anh Hùng D, sinh năm 2005 và anh Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 2007. Anh Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh H được quyền tới lui chăm sóc cháu D, cháu N không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Võ Thị H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006687 ngày 4/2/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

5. Về kháng cáo: Chị Võ Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 6/5/2020). Anh Nguyễn Thanh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự


92
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 116/2020/HNGĐ-ST ngày 06/05/2020 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:116/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về