Bản án 116/2019/HNGĐ-ST ngày 23/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 116/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 23 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2019/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Kiều Ngọc M, sinh năm 1998 (có mặt). Địa chỉ: Khóm A, thị trấn B, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lê Nhật D, sinh năm 1993 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn B, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 08/01/2019, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Kiều Ngọc M trình bày: Chị và anh D tự nguyện kết hôn năm 2014 và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh D lo ăn chơi, không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng sống ly thân hơn 05 tháng. Hai gia đình có hàn gắn nhưng không thỏa thuận đoàn tụ được. Nay chị xin ly hôn với anh D.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Ngọc K, sinh ngày 28/02/2014 và Lê Duy K, sinh ngày 01/6/2016 hiện do chị đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu nuôi dưỡng 02 con. Hiện nay chị và 02 con đang sống tại nhà ông bà ngoại ở Khóm A, thị trấn B; nghề nghiệp của chị là buôn bán, thu nhập hàng tháng 6.000.000 đồng và đủ điều kiện nuôi 02 con nên không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung chị xác định không có

- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Nhật D trình bày: Anh và chị M tự nguyện kết hôn năm 2014 và có đăng ký kết hôn đúng quy định. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị M trình bày trên là không đúng. Trước đây, anh làm lơ xe tải tại thị trấn Trần Văn Thời đi Cà Mau và đôi lúc cũng có uống rượu giao lưu với bạn bè, trong thời gian chung sống anh vẫn chăm lo cho vợ và 02 con đầy đủ. Nhưng vì hoàn cảnh kinh tế của anh chị khó khăn, chị M không chịu đựng được nên xảy ra mâu thuẫn và ly thân nhau hơn 05 tháng nay không hàn gắn được. Nay anh đồng ý thuận tình ly hôn với chị M.

Về con chung: Có 02 con chung như chị M trình bày là đúng. Sau khi ly hôn anh yêu cầu nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc K, cháu K đồng ý giao cho chị M nuôi dưỡng. Anh xác định chị M không có khả năng nuôi dưỡng cùng lúc 02 con chung; nghề nghiệp của anh làm nghề xe cuốc tại thành phố Cà Mau, thu nhập hàng tháng 6.000.000 đồng nên đủ điều kiện nuôi 01 con chung nhằm san sẽ với chị M. Nếu giao cháu K cho anh nuôi dưỡng thì anh cùng cháu đến sống nhà cậu tại thành phố Cà Mau để tiện chăm sóc, nuôi dưỡng con; anh không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung anh xác định không có.

- Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự. Qua xem xét lời trình bày của các đương sự và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M xin ly hôn với anh D và giao 02 con chung cho chị M nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về hôn nhân: Chị M và anh D tự nguyện kết hôn năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời ngày 07/02/2017 nên mối quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Quá trình chung sống anh chị xác định phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên thuận tình ly hôn với nhau. Mặc dù, anh chị thuận tình ly hôn, nhưng anh chị không thỏa thuận được vấn đề nuôi con nên Hội đồng xét xử không công nhận cho anh chị được thuận tình ly hôn, mà cho chị M được ly hôn với anh D là đúng quy định tại Điều 55, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên Lê Ngọc K, sinh ngày 28/02/2014 và Lê D K, sinh ngày 01/6/2016. Sau khi ly hôn, anh chị thống nhất cháu K còn nhỏ nên giao cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng. Xét sự thỏa thuận của anh chị là tự nguyện, sự thỏa thuận này không trái đạo đức, không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Chị M và anh D cùng có yêu cầu nuôi dưỡng cháu K và cấp dưỡng nuôi con không đặt ra yêu cầu vì xác định thu nhập của anh, chị đủ khả năng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, anh chị đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Căn cứ công văn số: 94/UBND – VP ngày 21/3/2019 của UBND thị trấn Trần Văn Thời cung cấp thông tin về nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp ly hôn, hoàn cảnh gia đình và điều kiện nuôi con của chị M với anh D và qua tranh tụng, Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay chị M và anh D đều có việc làm và thu nhập ngang nhau, đều đảm bảo việc nuôi con. Cháu K và cháu K hiện do chị M nuôi dưỡng từ khi anh chị ly thân đến nay, chị M vẫn đảm bảo cho 02 cháu được phát triển bình thường. Hơn nữa, cháu K là nữ nên cần có mẹ nuôi dưỡng mới đảm bảo việc phát triển về tâm sinh lý của cháu trong thời gian tới. Do đó, không cần thiết phải thay đổi môi trường sống ổn định của hai cháu, nên cần giao cháu K cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng là đảm bảo cuộc sống của con được ổn định, đảm bảo cho sự phát triển về thể chất, học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của con là có căn cứ.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

[3] Về tài sản chung và nợ chung các đương sự xác định không có nên không xem xét, giải quyết.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị M phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M. Cho chị Kiều Ngọc M được ly hôn với anh Lê Nhật D.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc K, sinh ngày 28/02/2014 và Lê Duy K, sinh ngày 01/6/2016 cho chị Kiều Ngọc M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Lê Nhật D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị M và anh D xác định quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung.

4. Án phí hôn nhân gia đình chị M phải chịu 300.000 đồng, chị dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0002594 ngày 08/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay được chuyển thu, chị M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 116/2019/HNGĐ-ST ngày 23/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:116/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về