Bản án 115/2019/HS-ST ngày 24/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 115/2019/HS-ST NGÀY 24/10/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Văn Q (Vũ Quang C), sinh năm: 2000, tại: Ng L, Thanh Hóa; Nơi cư trú: ấp L T, xã Th L, huyện N L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn C và bà Phạm Thị M; Bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 26/6/2019. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần K, trợ giúp viên của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 23/6/2019, Phạm Văn Q gọi điện thoại cho một người đàn ông tên T (chưa xác định được nhân thân) ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, hỏi mua 15 viên ma tuý loại MDMA với giá 2.500.000đ và 500.000đ ma tuý đá với thỏa thuận T sẽ gửi ma tuý về Phú Quốc cho Q qua tàu Superdong.

Đến trưa cùng ngày Q xuống bến tàu Bãi Vòng, Hàm Ninh gặp nhân viên trên tàu Supedong nhận gói đồ có ghi tên Vũ Quang C. Sau khi mua được ma tuý, Q đưa về phọng trọ ở ấp Bến Tràm, xã Cửa Dương, huyện Phú Quốc mở gói đồ ra kiểm tra thì thấy bên trong có 6 bịch ma tuý, Q lấy 01 bịch ma tuý ra cất giấu trong ví da để sử dụng còn 5 bịch còn lại cất giấu dưới tấm nệm nơi Q nằm ngủ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/6/2019 trong khi Q đang ngồi chơi cùng với Huỳnh Thị Thu H và Nguyễn Quốc T tại phòng của Q thì Công an huyện Phú Quốc tiến hành kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang Q đang tàng trữ 5 bịch ma tuý dưới nệm và 01 bịch ma tuý trong ví da của Q.

* Tang vật thu giữ: 01 bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu xanh, có kích thước 1,5cm x 03cm, và 02 bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu đỏ, có kích thước 1,5cm x 02cm, bên trong mỗi bịch đều chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất; 03 bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu xanh, có kích thước 04cm x 04cm, bên trong mỗi bịch có chứa 05 viên nén màu xa nh, bên trên có chữ Chupa Chups; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, có số IMEI 1: 359051/09/0687617/7, và số IMEI 2: 359052/09/0687615/5; 01 cuốn vỡ ghi, bên trong có 02 trang giấy có chữ viết màu đỏ và chữ ký Vũ Quang C.

* Căn cứ kết luận giám định số 421/KL-KTHS ngày 01/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

- 15 viên nén màu xanh chứa trong 03 bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu xanh, kích thước khoảng 04cm x 04cm được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA, khối lượng mẫu gửi giám định là 5,3717gam.

- Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu xanh, kích thước khoảng 2,5cm x 03cm được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3909 gam.

- Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất, chứa trong 01 bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 1,5cm x 02cm được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3283 gam.

- Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, chứa trong 01 bịch nylon trong suốt viền màu đỏ, kích thước khoảng 1,5cm x 02cm được niêm phong gửi giám định là chất ma tuý, loại Ketamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3160 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 421/KL-KTHS ngày 01/7/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số 116/CT-VKSPQ ngày 18 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 05 đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 4,9592 gam ma tuý, loại MDMA; 0,6776 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 0,2886gam ma tuý, loại Ketamine và bao gói đựng mẫu giám định.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, có số IMEI 1: 359051/09/0687617/7, và số IMEI 2: 359052/09/0687615/5.

Tiếp tục lưu giữ 01 cuốn vỡ ghi, bên trong có 02 trang giấy có chữ viết màu đỏ và chữ ký Vũ Quang C trong hồ sơ vụ án.

Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho Q, Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố và lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Thống nhất cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ thật thà khai báo, ăn năn hối cải thành hai tình tiết giảm nhẹ để áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS xử bị cáo dưới mức hình phạt mà vị đại diện viện kiể m sát đề nghị cũng đủ nghiêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/6/2019, Công an huyện Phú Quốc tiến hành kiểm tra phòng trọ của Phạm Văn Q thuê tại ấp Bến Tràm, xã Cửa Dương, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện trong ví da của Q 01 bịch ma túy và 05 bịch ma túy để dưới nệm, Q khai đó là ma túy Q mua của một người tên T với giá 3.000.000đ để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 421/KL-KTHS ngày 01/7/2019 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang đã kết luận: 06 bịch ma túy thu giữ tại phòng trọ của Phạm Văn Q là ma túy gồm các loại: MDMA 5,3717 gam, Methamphetamine 0,7192 gam, Ketamine 0,3160 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để xác định cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo còn trẻ không lo chí thú làm ăn tạo lập sự nghiệp mà lo ăn chơi sử dụng ma túy là chất cấm được Nhà nước độc quyền quản lý sử dụng. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cần ma túy để sử dụng mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà thà báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 cuốn vỡ ghi bên trong có 02 trang giấy có chữ viết màu đỏ và chữ ký Vũ Quang C trong hồ sơ vụ án.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, có số IMEI 1: 359051/09/0687617/7, và số IMEI 2: 359052/09/0687615/5.

[6] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở nên HĐXX xem xét.

[7] Lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý là có cơ sở. Tuy nhiên xét thấy tính chất mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên HĐXX nghị không áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để hạ khung cho bị cáo.

[7] Về án phí: bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc quy định mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Q 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/6/2019.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 4,9592 gam ma tuý, loại MDMA; 0,6776 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 0,2886 gam ma tuý, loại Ketamine và bao gói đựng mẫu giám định; Lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 cuốn vỡ ghi, bên trong có 02 trang giấy có chữ viết màu đỏ và chữ ký Vũ Quang C trong hồ sơ vụ án.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, có số IMEI 1: 359051/09/0687617/7, và số IMEI 2: 359052/09/0687615/5.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự huyện Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số 73/QĐ-VKSPQ-HS ngày 18/9/2019)

3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2019/HS-ST ngày 24/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:115/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phú Quốc - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về