Bản án 115/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về tranh chấp ly hôn giữa chị Nh và anh V 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 115/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN GIỮA CHỊ NH VÀ ANH V 

Ngày 27 tháng 11 năm 2019  tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2019. Về vụ án xin L hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2019 giữa:

+ Nguyên đơn: Chị Trần Thị Nh - Sinh năm 1983 

Địa chỉ: Xóm 4 Nam Hải, xã N, huyện N, tỉnh N 

+ Bị đơn: Anh Trần Văn V - Sinh năm 1977 

Địa chỉ: Xóm 4 Nam Hải, xã N, huyện N, tỉnh N  

Tại phiên tòa có mặt chị Nh, vắng mặt anh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN 

Trong đơn khởi kiện lập ngày 10/8/2019 cũng như lời khai của chị Trần Thị Nh trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn V vào tháng  10/2002 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N Sau khi kết hôn, chị và anh V chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, anh V hay đánh chửi chị và không quan tâm đến gia đình. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị và anh V không được cải thiện. Từ tháng 11/2015 đến nay chị và anh V sống L thân nhau. Nay chị xác định tình  cảm vợ chồng giữa chị và anh V không còn nên chị xin được L hôn anh V. Về con  chung giữa chị và anh Trần văn V có hai con chung là Trần Thị Khánh L sinh ngày  17/10/2003 và Trần Thanh Th sinh ngày 06/01/2014, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Nay chị xin được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung và chị có đủ điều kiện kinh tế để nuôi các cháu nên chị không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng chị. Về tài sản chung giữa chị và anh Trần Văn V thì chị  không yêu cầu giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn V vắng mặt nhưng anh V có lời khai trong quá trình giải quyết trình bày đúng như lời khai của chị Trần Thị Nh về quá trình kết hôn và sống chung giữa anh và chị Nh. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị Nh phát sinh nguyên nhân là do chị Nh sống không tôn trọng anh, khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn chị Nh đã tự ý bế con về nhà bố mẹ đẻ ở và chị Nh đã tự viết đơn xin L hôn anh vì vậy anh không nhất trí còn tuỳ chị Nh. Về con chung giữa anh và chị Trần Thị Nh có hai con chung là Trần Thị Khánh L sinh ngày 17/10/2003 và Trần Thanh Th sinh ngày 06/01/2014, hiện các cháu đang do chị Nh nuôi dưỡng. Nếu anh và chị Nh L hôn nhau thì các cháu muốn ở với ai thì tuỳ các cháu, nếu các cháu ở với anh thì anh nuôi. Về tài sản chung giữa anh và chị Nh, thì anh không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm Phán thụ lý giảỉ quyết cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82; 83 luật Hôn nhân và gia đình: xử L hôn giữa chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn V. Về con chung: giao cháu Trần Thị Khánh L sinh ngày 17/10/2003 và cháu Trần Thanh Th sinh ngày 06/01/2014 cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Trần Văn V không phải cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng chị Trần Thị Nh. Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chị Nh phải nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn V đều cư trú tại xã Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, nay chị Nh xin L hôn anh V và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa anh Trần Văn V vắng mặt nhưng anh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh V là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn V được tổ chức kết hôn vào tháng 10/2002, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, chị Nh và anh V chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân chính là do hai bên không hợp tính nhau dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị Nh và anh V không được cải thiện. Từ tháng  11/2015 đến nay chị Nh và anh V sống L thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng  giữa chị Nh và anh V đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ nay chị  Nh xin L hôn anh V nên chấp nhận là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn V có hai con chung là Trần Thị Khánh L sinh ngày 17/10/2003 và Trần Thanh Th sinh ngày 06/01/2014, hiện đang do chị Nh nuôi dưỡng. Phía chị Nh xin được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, thấy phù hợp với nguyện vọng của các cháu cũng như đề nghị của anh V nên chấp nhận yêu cầu của chị Nh là phù hợp.

[4] Về tài sản: Chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn V đều khai thống nhất xác  định anh chị không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị Nh phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH 

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 147; 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 6 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1- Xử  L hôn giữa chị Trần Thị Nh và anh Trần Văn V.

2- Về con chung: Giao cháu Trần Thị Khánh L sinh ngày 17/10/2003 và cháu Trần Thanh Th sinh ngày 06/01/2014 cho chị Trần Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Trần Thị Khánh L và cháu Trần Thanh Th đang do chị Trần Thị Nh chăm sóc nuôi dưỡng). Anh Trần Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Trần Thị Nh đối với cháu Trần Thị Khánh L và cháu Trần Thanh Th. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung  3- Án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị Nh phải nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Trần Thị Nh đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số BB/2012/06424 ngày 19/8/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Trần Thị Nh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành  án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


76
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về tranh chấp ly hôn giữa chị Nh và anh V 

Số hiệu:115/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghĩa Hưng - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về