Bản án 114/2021/HSST ngày 27/01/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 114/2021/HSST NGÀY 27/01/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27/01/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 127/2020/HSST ngày 30/12/2020. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2021/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo: Trần Mạnh H- sinh năm 1995; ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Xuân O và con bà Lê Thị T; tiền án: không; tiền sự: Ngày 09/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T áp dụng biện pháp xử lý hành chính, hình thức đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 09/01/2020; bị tạm giữ: 05/12/2020; tạm giam: 11/12/2020; hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trần Mạnh H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 11h10’ ngày 05/12/2020 tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực trước Đường T, phường T, thành phố T phát hiện Trần Mạnh H có biểu hiện khả nghi liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra, qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong túi áo khoác bên phải H có 01 túi nilon màu hồng bên trong đựng gói nilon màu trắng kích thước khoảng (3x6)cm chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 gói giấy màu bạc chứa 07 viên nén màu đỏ, hình tròn. Qua đấu tranh sơ bộ ban đầu, H khai nhận đây là ma túy tổng hợp gồm ma túy đá và hồng phiến mà H đang cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.

Tại Bản kết luận giám định số 3173/PC09 ngày 09/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh T giám định kết luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,970 gam, loại: Methamphetamine.

- 07 viên nén màu đỏ, hình tròn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,683 gam, loại: Methamphetamine.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Trần Mạnh H khai nhận: Do bản thân có sử dụng ma túy tổng hợp (dạng đá và hồng phiến) nên khoảng 21h ngày 04/12/2020, H một mình đi đến khu vực đầu dốc phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh T tìm mua ma túy đá và hồng phiến để sử dụng. Tại đây, H gặp và mua được của một nam thanh niên khoảng 30 tuổi không quen biết 01 gói ma túy đá và 10 viên hồng phiến với giá 3.600.000đ. Sau khi mua được ma túy đá và hồng phiến, H mang về nhà ở thôn 3, xã X, huyện T, H lấy một phần ma túy đá và 03 viên hồng phiến sử dụng; số còn lại H cất giấu, để khi nào có nhu cầu sẽ lấy ra sử dụng. Sáng ngày 05/12/2020 H đi một mình xuống thành phố chơi và có mang theo số ma túy còn lại, đến khoảng 11h10’ ngày 05/12/2020 khi H đang đứng trước đường T, phường T, thành phố T thì bị Công an thành phố T kiểm tra, bắt quả tang; Công an thu giữ trong túi áo khoác bên phải của H đang mặc gói ma túy đá và gói đựng 07 viên hồng phiến.

Căn cứ vào lời khai của Trần Mạnh H về nam thanh niên bán 01 gói ma túy đá và 10 viên hồng phiến cho H tại khu vực đầu dốc C, thị trấn N, huyện N, tỉnh T. Do H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, ngoài lời khai của H không có tài liệu khác để xác định người này là của ai nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Cáo trạng số 25/CT-VKSTPTH ngày 30/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố Trần Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 27 đến 33 tháng tù, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Do nghiện ma túy, Vào khoảng 11h10’ ngày 05/12/2020 tại khu vực trước đường T, phường T, thành phố T, Trần Mạnh H có hành vi tàng trữ trái phép 1,653 gam loại Methamphetamie với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Mạnh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt áp dụng xét xử đối với bị cáo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

[3]. Bị cáo là đối tượng biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống trong các quan hệ xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa lành mạnh. Đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS phát triển, nhất là đối với những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vì có tác hại như vậy nên nhà nước ta đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục, nhằm ngăn chặn các tệ nạn và hoạt động có liên quan đến ma túy. Trong vụ án này bị cáo vì nghiện ma túy dẫn đến phạm tội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân, tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[4] Trong vụ án này, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, mới chấp hành xong quyết định lại phạm tội, chứng tỏ rằng bị cáo không chịu cải sửa, nên cần phải cách ly khỏi xã hội để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai phạm. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự  để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Trong vụ án này bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Số Methamphetamie thu được của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần áp dụng khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Mạnh H 33(ba ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2020.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T,có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Lê Minh T, Trịnh Thị T, Trần Thị Thúy H hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng số 76/THA ngày 11/01/2021.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 114/2021/HSST ngày 27/01/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:114/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về