Bản án 114/2019/HSST ngày 26/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 114/2019/HSST NGÀY 26/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thai Binh, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2019/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2019, quyêt định đưa vụ án ra xét xử số : 116/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 7 năm 2019, đối với bọ cáo:

Bùi Văn T - sinh năm 1986 tại Thái Bình (có mặt).

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnhThái Bình.

Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không. giới tính: Nam. Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Bùi Đình C (đã chết). Mẹ đẻ: Phạm Thị R. Vợ : Lê Thị T; Có 01 con sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 73/2015/HSST ngày 14/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “ Đánh bạc” chấp hành xong bản án ngày 25/12/2015.

Quyết định xử phạt hành chính số 270 ngày 10/8/2011 của Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đối với Bùi Văn T về hành vi “trộm cắp tài sản” hình phạt tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giam theo quyết định khởi tố bị can về tội “trộm cắp tài sản” của công an huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình.

Những người bị hại: Chị Vũ Thị M – sinh năm 1980(Vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T – sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 27/12/2018 bị cáo (Bùi Văn T) đi bộ qua cổng nhà chị Vũ Thị M – sinh năm 1980 tại thôn A,xã Đ, thành phố T phát hiện thấy cổng nhà chị Mến không khóa bên trong sân có chiếc xe máy Hon Da Lead màu vàng – xanh biển số 17B9 – 136.63 còn chìa khóa cắm ở ổ khóa điện. Bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy. Thấy không có người trông coi nên bị cáo đã vào sân dắt chiếc xe máy ra ngoài cổng nổ máy chạy về nhà cất giấu. Về đến nhà bị cáo kiểm tra chiếc xe thấy trong cốp xe có 01 túi xách giả da bên trong có một chiếc ví giả da màu nâu chứa 01 giấy CMND; 01 thẻ Đảng viên; 01 thẻ ngân hàng;

01đăng ký xe mô tô và 01 giấy phép lái xe đều mang tên chị M (chiếc túi xách giả da và chiếc ví giả da không còn giá trị sử dụng). Ngày 28/12/2018 bị cáo mang xe và đăng ký đến nhà anh T nói là xe của chị dâu muốn bán và bán lại cho anh T với giá 18 triệu đồng, anh T trả trước 7 triệu đồng còn lại sẽ trả sau khi làm xong giấy tờ sang tên đổi chủ. Bị cáo giao xe và giấy đăng ký và nhận 7 triệu đồng mang đi tiêu dùng cá nhân. Ngày 30/01/2019 công an huyện Đông Hưng khám xét nơi ở của bị cáo trong vụ án khác phát hiện thu giữ được toàn bộ vật chứng gồm: 01 túi xách giả da bên trong có một chiếc ví giả da màu nâu chứa 01 giấy CMND; 01 thẻ Đảng viên; 01 thẻ ngân hàng; 01đăng ký xe mô tô và 01 giấy phép lái xe đều mang tên chị M. Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung hành vi trộm cắp chiếc xe.

Ngày 06/3/2019 chị M trình báo toàn bộ nội dung vụ việc mất xe đến cơ quan công an thành phố Thái Bình đề nghị điều tra xử lý.

Ngày 02/02/2019 anh T tự nguyện giao nộp cho công an chiếc xe máy và đăng ký chiếc xe Hon da Lead biển số 17B9 – 136.63 mang tên chị Vũ Thị M.

Tại bản kết luận định giá số 07/KL- ĐG ngày 12/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình kết luận: “Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD màu vàng - xanh biển kiểm soát 17B9 - 136.63 trị giá là 21.500.000 đồng.

Tại cáo trạng số 122/CT-VKSTP ngày 31/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quyết định truy tố bị can Bùi Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diệnViện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, kiểm sát viên đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"; đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra giải quyết. Buộc bị cáo phải trả lại cho anh T số tiền 7 triệu đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong đúng quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên đúng quy định pháp luật, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đều khai nhận: Khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 27/12/2018, bị cáo Bùi Văn T đã thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe máy Hon Da Lead, biển số 17B9 – 136.63 tại sân nhà chị Vũ Thị M thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình đem đi bán cho anh Trần Văn T lấy 7.000.000 đồng tiêu dùng cá nhân hết.

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại chị Vũ Thị M và lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn T, biên bản khám xét nơi ở của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có cơ sở xác định một mình bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe máy trị giá 21.500.000 đồng của chị M. Hành vi của bị cáo phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[2.2] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý xâm phạm tài sản của người khác, tài sản trộm cắp trị giá 21.500.000 đồng. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật quy định bảo vệ, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm hoang mang trong dân chúng. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo để nhằm răn đe giáo dục chung.

[3.1] Xét tình tiết giảm nhẹ tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

[3.2] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Xét điều kiện của bị cáo kinh tế khó khăn nên không phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[3.3] Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, xét xử về tội đánh bạc và phải chịu hình phạt nhưng không chịu cải tạo bản thân vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện.

[4] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý nên không đặt ra xem xét giải quyết.

 [5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận được toàn bộ tài sản nay không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết. Buộc bị cáo phải trả lại cho anh T số tiền 7 triệu đồng.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Từ những nhận xét trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 50; Điều 38; Điêu 48 Bộ luật hình sự 2015. Điều 136 ; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 năm 06 tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Trần Văn T số tiền 7 triệu đồng. Đối với bị hại không đặt ra giải quyết.

3.Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thơi han 15 ngày. Đối với người có mặt kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/7/2019. Đối với những người vắng mặt kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 114/2019/HSST ngày 26/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:114/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Bình - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về