Bản án 11/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP. HÀ NỘI

BẢN ÁN 11/2021/HS-ST NGÀY 22/01/2021 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 22 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 364/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 392/2020/QĐXXST-HS ngày 10/12/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 102/2020/HSST-QĐ ngày 24/12/2020 đối với bị cáo:

DTT – sinh năm: 1993; HKTT và chỗ ở: Tổ 3, phường GB, quận LB, TP HN; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; con ông DTB (đã chết) và bà NTMH; Gia đình có 02 anh, chị em, bị cáo là con thứ nhất; TATS: 02 tiền sự.

Tháng 11/2010 Công an phường Bồ Đề xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma Ty.

Tháng 6/2013 UBND quận Long Biên ra quyết định xử lý hành chính hành vi sử dụng trái phép chất ma Ty, nghiện ma Ty bằng hình thức đưa vào cơ sở chữa bệnh. Đến năm 2015 chấp hành xong về địa phương và chấp hành xong thời gian quản lí sau cai nghiện ma Ty tại nơi cư trú.

BÞ cáo bị tạm giữ từ ngày 29/8/2020 đến ngày 07/9/2020, được hủy bỏ biện pháp tạm giam, áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

( Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

Anh NVC – sinh năm 1981 HKTT: Tổ 1, phường GB, quận LB, TP Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16h30 phút ngày 28/8/2020, Công an phường Giang Biên, quận Long Biên tiếp nhận đơn trình báo của bà ĐTT- SN: 1955, HKTT: Tổ 1 GB, LB, Hà Nội về việc: Khoảng 23h ngày 23/8/2020 con trai bà là NVC- SN: 1981, HKTT: Tổ 1 GB, LB, Hà Nội bị DTT- SN: 1993, HKTT: Tổ 3 GB, LB, Hà Nội dùng kéo đâm gây thương tích tại nhà hàng Tuấn Râu ở Tổ 1 GB, LB, Hà Nội, hiện đang cấp cứu tại bệnh viện Đức Giang.

Tiếp nhận tin báo trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã tiến hành điều tra và làm rõ nội dung vụ án như sau:

Tối ngày 27/8/2020 anh NVC có đến làm giúp chủ quán Tuấn Râu ở tổ 1 Giang Biên, Long Biên, Hà Nội. Khi C đang ngồi ở tầng 1 bên trong nhà hàng thì nghe thấy tiếng cãi chửi nhau ở phía ngoài quán. Thấy vậy C đi ra và có nói với nhóm người đang xô xát với nhau là: “ Chúng mày không đánh nhau ở đây, chỗ này là chỗ làm ăn, đánh nhau đi ra chỗ khác”. Sau khi C nói như vậy thì bị 1 đối tượng tên là K và 1 đối tượng khác (Hiện chưa rõ nhân thân lai lịch của K và đối tượng này) xô đẩy C, dùng tay không đánh vào người C, một số người có mặt tại đó can ngăn, sau đó C vùng chạy vào trong quán. Lúc này K và nam thanh niên kia không đuổi đánh C nữa. Khi C đi đến khu vực cầu thang lên tầng 2 thì gặp T vừa đi xuống đến nơi, nghe thấy tiếng anh C chửi bậy, T nghĩ rằng anh C đang chửi mình, sẵn có men rượu trong người và trước đó giữa T và anh C có mẫu thuẫn trong sinh hoạt nên T bực tức liền vớ lấy cây kéo bằng kim loại dài khoảng 20cm, 2 đầu nhọn, lưỡi kéo dài khoảng 8cm đâm 02 nhát, 1 nhát trúng vào vùng bụng phải và 1 nhát trùng đùi phải của anh C. Thấy anh C bị chảy máu, T vứt kéo lại và bỏ đi về. Anh C được anh N- SN: 1996, HKTT: Tổ 4 GB, LB, Hà Nội đang có mặt quán đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa Đức Giang.

Về thương tích của anh C: 01 vết thương thành bụng bên phải cạnh rốn kích thước (1x1)cm, 01 vết thương ngoài đùi phải kích thước (3x1)cm.

 Thu giữ: 01 chiếc kéo bằng kim loại dài khoảng 20cm, lưỡi kéo có dính màu nâu đỏ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu Trung tâm pháp y Hà Nội giám định pháp y thương tích của anh C. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 883/TTPY ngày 04/9/2020 kết luận: Tại thời điểm giám định:

+ Phẫu thuật thăm dò ổ bụng bằng nội soi: 06%.

+ Vết thương vùng đùi phải đã phẫu thuật xử trí vết thương: 03%.

+ Vết thương thấu bụng, các vết dẫn lưu dịch: 03%.

+ Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, ảnh hưởng chức năng đối với những tổn thương trên, đề nghị giám định bổ sung khi có đầy đủ căn cứ.

Nhiều khả năng các thương tích do vật sắc nhọn gây nên.

Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 12%. ( tính theo phương pháp cộng lùi).

Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Long Biên đã trưng cầu giám định AND đối với mẫu vật màu nâu đỏ thu giữ trên chiếc kéo mà DTT đã dùng để gây thương tích cho anh C.

Tại bản kết luận giám định số 6331/C09- TT3 + P8 ngày 30/10/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Trên chiếc kéo gửi giám định có dính máu người và là máu của NVC.

Tại cơ quan điều tra, DTT khai nhận:

DTT khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. T khai 02 vết thương trên bụng và đùi phải của anh C là do một mình T gây nên. Lời khai của T phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, các tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên đã làm rõ: khoảng 21h30 phút ngày 27/8/2020, VDH (sinh năm 1990, HKTT: Tổ 7 phường GB, LB, Hà Nội) ngồi uống bia cùng NBA (sinh năm 1994, HKTT: Tổ 5 phường GB, LB, Hà Nội) tại quán bia Tuấn Râu thuộc tổ 1 Giang Biên, Long Biên, Hà Nội. Khi H và BA đang ngồi uống bia thì có NTT (sinh năm 1986, HKTT: Tổ 4 GB, LB, Hà Nội) đi cùng với bạn xã hội tên là K ( T chỉ biết tên, không rõ nhân thân lai lịch) là bạn của H sang mời bia. NVT (sinh năm 1988, HKTT: Tổ 3 phường GB, LB, Hà Nội) là bạn của T đi qua nên T có mời vào uống bia cùng. Khi T có mời Huống bia nhưng H không uống. T cầm cốc bia đang cầm trên tay hất vào người H nhưng không trúng và cầm ghế nhựa đánh H. H bỏ chạy và Thắng đuổi theo đánh H. Như vậy H, T, T không liên quan đến hành vi đánh gây thương tích của DTT.

 Lời khai của T phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với 02 đối tượng khác đuổi đánh anh C trước khi anh C bị T đâm gây thương tích cho anh C, anh C và T không biết nhân thân lai lịch nên không có điều kiện xác minh làm rõ và xử lí. Khi nào lãm rõ sẽ xử lí sau.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Người bị hại là anh NVC xin xét xử vắng mặt, không có ý kiến gì khác, giữ nguyên ý kiến tại cơ quan điều tra, đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số:354/CT-VKS ngày 27/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Long Biên đã truy tố về tội:

Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo DTT đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích”. Hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng: Không có Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s), bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại (điểm b), người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm (điểm t), người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là lao động chính duy nhất có xác nhận của chính quyền địa phương (khoản 2 Điều 51).

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s,t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao .

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại hiện đang có tại cơ quan Thi hành án dân sự quận Long Biên.

Về dân sự: Bị cáo DTT đã bồi thường thương tích cho anh C số tiền 80.000.000đ. Anh C không có yêu cầu thêm gì về dân sự và đã viết đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T nên không xem xét.

 Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 26 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 52-60 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định pháp y thương tích, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 phút ngày 27/8/2020, tại tầng 1 quán Tuấn Râu ở tổ 1 phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội, bị cáo DTT đã có hành vi dùng 01 chiếc kéo bằng kim loại dài khoảng 20cm, hai đầu nhọn, lưỡi kéo dài khoảng 08cm đâm 01 nhát trúng vào bụng phải và 01 nhát trúng vào đùi phải của anh NVC gây thương tích, tổn hại sức khỏe 12%.

[3] Hành vi của DTT như đã nêu trên đã cấu thành tội: Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

[4] Về tình tiết tăng nặng TNHS: không

[5] Về tình tiết giảm nhẹ TNHS:

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo (điểm s), bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho người bị hại (điểm b), người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm (điểm t), người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là lao động chính duy nhất có xác nhận của chính quyền địa phương (khoản 2 Điều 51).

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội, thực sự ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật cải tạo ngoài xã hội để lao động chăm sóc gia đình.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và ngăn đe phòng ngừa chung.

Khi lượng hình, HĐXX xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, có 02 tiền sự đã hết thời hiệu, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, người bị hại đã nhận được tiền bồi thường và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện tội phạm. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính duy nhất có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, t, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình hiện nay nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung:

[6] Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

 - Về xử lý vật chứng: Cho tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại hiện đang có tại cơ quan Thi hành án dân sự quận Long Biên.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh NVC đã nhận được bồi thường và không có ý kiến gì về dân sự do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

- Về án phí:

[9] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[10] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo DTT phạm tội: Cố ý gây thương tích.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s,b,t khoản 1, khoản 2 Điều 51: Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015.

Áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao.

Xử phạt bị cáo DTT 28 (hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 56 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo DTT cho Uỷ ban nhân dân phường Giang Biên, quận Long Biên, Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời hạn thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại hiện đang có tại cơ quan Thi hành án dân sự quận Long Biên. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2020.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

 4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự. Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.


25
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về