Bản án 11/2019/HSST ngày 18/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 11/2019/HSST NGÀY 18/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2019/HSST, ngày 06 tháng 5 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tòng Thị D. Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1980. Tại: huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Bản M, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản M, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Thái; con ông: Tòng Văn K, sinh năm 1959 và bà Quàng Thị Í, sinh năm 1962; Bị cáo có chồng: Tòng Văn P (đã chết) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam, giữ từ ngày 22/01/2019 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lò Thị Khánh H– Trợ giúp viên pháp lý.

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (có mặt).

Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Lò Văn N; sinh năm 1989.

Trú tại: Tổ Z, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Tòng Thị D được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 15 phút ngày 22 tháng 01 năm 2019, tại nhà ở của mình thuộc bản M, xã X, huyện M, Tòng Thị D đã có hành vi tàng trữ trái phép 37 viên Hồng phiến (Methamphetamine) gồm 33 viên màu hồng và 04 viên màu xanh có khối lượng 3,55 gam mục đích sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Tòng Thị D khai nhận: Khoảng 17giờ 00 phút, ngày 22/01/2019 D đang ở nhà của mình thuộc bản M, xã X, huyện M thì có một người 2 đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu đến mua nước uống. Thấy D khóc thì người dân tộc Mông có hỏi D là có mua “viên ngựa” (Hồng phiến) để sử dụng cho hết buồn không? D đã mua của người đàn ông đó một túi ni lông màu xanh bên trong có chứa các viên Hồng phiến màu hồng, màu xanh với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng), mục đích về sử dụng. Sau khi mua được Hồng phiến D cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc, còn người đàn ông đó đi đâu thì D không biết. Sau khi người đàn ông dân tộc Mông đó đi D mang túi Hồng phiến (Methamphetamine) vừa mua được ra lấy 01 viên sử dụng bằng hình thức đốt hít. Khi vừa sử dụng xong thì Tổ công tác Công an Đồn Búng Lao, huyện Mường Ảng phát hiện, bắt quả tang thu giữ một túi ni lông màu xanh bên trong đựng 37 viên Methamphetamine gồm 33 viên màu hồng và 04 viên màu xanh có khối lượng là 3,55 gam ra giao nộp cho Tổ công tác.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 20 giờ 25 phút ngày 22/01/2019 thì vật chứng thu giữ của Tòng Thị D là 37 viên Methamphetamine gồm 33 viên màu hồng và 04 viên màu xanh là Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 15 giờ 00 ngày 23/01/2019 thì 37 viên Methamphetamine gồm 33 viên màu hồng và 04 viên màu xanh có khối lượng là: 3,55 gam.

Tại bản kết luận giám định số 248/GĐ-PC 09, ngày 28/01/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 3,55 gam là ma túy: Loại Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy có số thứ tự: 323, mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 10/CT-VKSMA, ngày 04/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Tòng Thị D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Tòng Thị D từ 27 tháng đến 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 3,1g Methamphetamine, là vật chứng còn lại của vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo sống ở xã có điều kiện đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Tòng Thị D.

Nội dung bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.

Về án phí gia đình bị cáo Tòng Thị D là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo D nhất trí nội dung bản luận cứ của người bào chữa.

Lời nói sau cùng, Tòng Thị D nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo,bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Tòng Thị D công nhận: Hồi 19 giờ 15 phút ngày 22 tháng 01 năm 2019, tại nhà ở của mình thuộc Bản M, xã X, huyện M, Tòng Thị D đã tàng trữ 3,55 gam heroin mục đích để sử dụng.

Trong quá trình điều tra bị cáo khai mua 37 viên hồng phiến (Methamphetamine) có ký hiệu WY gói bằng túi ni lông màu xanh trong đó có 33 viên màu hồng và 04 viên màu xanh với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản xác định khối lượng ngày 23/01/2019 và kết luận giám định số 248/GĐ – PC 09, ngày 28/01/2019 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 3,55 gam là ma túy: Loại Methamphetamine, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 30 phút ngày 22/01/2019 đối với Tòng Thị D.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Tòng Thị D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[3]. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên, không được đi học. Đến năm 1998 kết hôn với anh Tòng Văn P và có với nhau 03 người con. Bị cáo là một người mẹ, người cha (do chồng bị cáo đã chết) trụ cột trong gia đình. Bản thân bị cáo là lao động chính, 03 người con của bị cáo còn nhỏ cần người chăm sóc nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS.

Về nguồn gốc số Hồng phiến (Methamphetamine) bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 22/01/2019. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.

Về bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên cần xem xét.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 của BLHS. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nguồn thu nhập chính nhờ làm ruộng nên không có khả năng thi hành. Cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 3,1 gam Methamphetamine (Sau khi đã trích mẫu gửi giám định không hoàn mẫu sau giám định) .

[7]. Về án phí: Bị cáo Tòng Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo sống ở xã đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8]. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

 QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Tòng Thị D phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Tòng Thị D 26 (Hai sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 01 năm 2019.

2. Vật chứng: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 3,1g (Ba phẩy một gam) Methamphetamine, là vật chứng còn lại của vụ án (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2019).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Thị D.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2019).


50
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HSST ngày 18/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:11/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Ảng - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về