Bản án 11/2019/HS-ST ngày 08/04/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 11/2019/HS-ST NGÀY 08/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 08 tháng 4 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2019/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Văn H - Sinh ngày 11 tháng 12 năm 1990, tại tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm x, xã S huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1964 và bà Ngô Thị V, sinh năm 1965, cả hai hiện đang làm ruộng tại xóm x, xã S, huyện N, tỉnh Nam Định; có vợ là Đinh Thị G, sinh năm 1992, hiện đang là công nhân tại xã S, huyện N, tỉnh Nam Định; có 02 con: Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh ngày 31/01/2017; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo Trần Văn H bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/01/2019 đến ngày 07/01/2019 chuyển tạm giam. Đến ngày 04/02/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho đến nay; có mặt.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Xóm x, xã S, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 04/01/2019, tại đường dong thuộc xóm x, xã Sơn, huyện N, Công an huyện Nghĩa Hưng phát hiện bắt quả tang Trần Văn H đang vận chuyển 01 bao xác rắn màu trắng bên trong có 05 vật hình hộp cùng loại, vỏ màu đỏ vàng, mỗi vật có kích thước 14x14x14cm, gồm 36 quả hình trụ kết lại. H khai nhận đó là 05 hộp pháo, loại 36 quả/01 hộp, mang đi cất giấu mục đích để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán. Thu giữ của H 01 bao xác rắn màu trắng bên trong có 05 hộp như đã nêu trên (niêm phong ký hiệu P). Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H thu giữ trong tủ kê tivi tại phòng khách 01 vật hình hộp, vỏ màu đỏ vàng, kích thước 14x14x14cm, gồm 36 quả hình trụ kết lại được đựng trong 01 túi nilon màu đen (niêm phong ký hiệu K), H khai nhận đó là 01 hộp pháo, loại 36 quả/01 hộp, cất giấu để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán.

Tại Bản kết luận giám định số 22/KTHS ngày 05/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu ký hiệu P là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 6,949 kg. Mẫu ký hiệu K là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 1,509 kg. Tổng khối lượng các mẫu gửi giám định ký hiệu P, K là: 8,458 kg.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Trần Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu: Khoảng đầu tháng 12/2018, H đi xe khách lên khu vực Bến xe Lạng Sơn mua của một người đàn ông không quen biết 06 hộp pháo, loại 36 quả/01 hộp với giá 3.000.000 đồng, mục đích mang về nhà để sử dụng trong dịp Tết. Ngày 04/01/2019, sợ người nhà phát hiện, H lấy 05 hộp pháo mang đi cất giấu thì bị bắt, còn 01 hộp pháo H cất giấu ở nhà, mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị thu giữ.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 26/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và Điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình xử phạt Trần Văn H từ 06 tháng đến 09 tháng tù; đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 05 hộp pháo được đựng trong 01 bao xác rắn màu trắng và 01 hộp pháo được đựng trong 01 túi nilon màu đen, vỏ màu đỏ vàng, cùng loại, mỗi vật có kích thước 14x14x14cm, gồm 36 quả hình trụ kết lại (đã trích 02 quả trong một hộp để giám định) do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định niêm phong và hoàn trả sau khi giám định; đề nghị áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về định tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 04/01/2019, tại đường dong thuộc xóm x, xã S, huyện N, Trần Văn H đã có hành vi vận chuyển 6,949 kg pháo nổ đi cất giấu và tàng trữ tại nhà 1,509 kg pháo nổ với mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Tổng khối lượng pháo nổ bị cáo có hành vi tàng trữ để sử dụng là 8,458 kg. Điều 191: Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm quy định:“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các H hợp sau đây, nếu không thuộc H hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.... Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước đối với những loại hàng hoá mà pháp luật cấm, xâm phạm tới trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Việc đưa bị cáo ra xét xử, lên án xử lý nghiêm là cần thiết góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc H hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cải tạo tập chung đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 05 hộp pháo được đựng trong 01 bao xác rắn màu trắng và 01 hộp pháo được đựng trong 01 túi nilon màu đen, vỏ màu đỏ vàng, cùng loại, mỗi vật có kích thước 14x14x14cm, gồm 36 quả hình trụ kết lại (đã trích 02 quả trong một hộp để giám định) do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định niêm phong và hoàn trả sau khi giám định cần tịch thu tiêu huỷ.

[6] Đối với người đàn ông bán pháo cho Trần Văn H tại khu vực Bến xe Lạng Sơn, hiện chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Công an huyện Nghĩa Hưng tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;

2 . Xử phạt bị cáo Trần Văn H 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian đã giam, giữ từ ngày 04/01/2019 đến ngày 04/02/2019.

3. Xử lý vậy chứng: Tịch thu tiêu hủy số pháo do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định niêm phong và hoàn trả sau khi giám định.

Vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nghĩa Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng lập ngày 06/3/2019.

4. Án phí: Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HS-ST ngày 08/04/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

Số hiệu:11/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nghĩa Hưng - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về