Bản án 11/2018/HSST ngày 23/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 11/2018/HSST NGÀY 23/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Mở phiên tòa công khai ngày 23-01-2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 399/2017/TLST-HS, ngày 29-12-2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 399/2018/QĐXXST- HS, ngày 12-01-2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đại T, sinh năm 1968.

Nơi cư trú: Số 29/52 D H, phường Q T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 4/10 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đ T (đã chết) và bà Bùi T N; có vợ Trần Thị T H ( đã ly hôn) và 01con.; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22-5-2013 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử 33 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 23-11-2017 sau đó chuyển tạm giam ngày 02-12-2017;bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h50’ ngày 23-11-2017, tổ công tác Công an phường Quang Trung, thành phố Nam Định làm nhiệm vụ khu vực trước ga Nam Định phát hiện Nguyễn Đ T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Khi bị kiểm tra Tuấn thả trên tay xuống đất 01 gói ni lông bên trong có gói giấy bạc màu vàng có chất bột màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng và đưa Tuấn cùng người làm chứng về trụ sở công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Bản kết luận giám định số: 919/GĐKTHS ngày 25-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đ T là chất ma túy, loại ma túy Hêroin, tổng trọng lượng (khối lượng) mẫu 0,137 gam.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Đ T đã khai nhận hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Nguồn gốc ma túy do T đi mua của một người đàn ông không biết lai lịch ở khu vực đường Phan Bội Châu, thành phố Nam Định với giá 100.000 đồng đi về đến khu vực ga Nam Định thì bị phát hiện bắt giữ.

Cáo trạng số 07/QĐ-KSĐT ngày 29-12-2017 Viện kiểm sát (VKS) nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Đ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999(BLHS).

Tại phiên tòa đại diện VKS giữ nguyên nội dung quyết truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ T từ 21 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự(BLTTHS) năm 2015 đề nghị HĐXX xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 919/GĐKTHS ngày 25-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 18h50’ ngày 23-11-2017tại khu vực trước cửa ga Nam Định, Nguyễn Đ T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,137gam Hêroin mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Bị cáo bị truy tố về hành vi phạm tội theo qui định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, căn cứ theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội, HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 là những tình tiết có lợi cho bị cáo để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại CQĐT cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân không nhằm kiếm lời bất chính nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: số Hêroin đã thu giữ là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho T hiện chưa đủ căn cứ xác định, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nam Định tiếp tục xác minh xử lý sau.

[6] Án phí HSST: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 BLTTHS năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đ T 21 (hai mươi mốt) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 23-11-2017.

2. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015 và Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy số Hêroin đã thu giữ có trong phong bì niêm phong số 919/GĐKTHS (biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-12-2017)

3. Án phí:

Áp dụng Điều 135 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Đ T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


116
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về