Bản án 11/2018/HS-ST ngày 06/02/2018 về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 11/2018/HS-ST NGÀY 06/02/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 06 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Thanh  H, sinh năm 1989; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 266/40 T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Khóm P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy L (đã chết) và bà Đỗ Kim E (sinh năm 1967); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố N khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định khởi tố số 440 ngày 13/11/2017; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/7/2017 và bị tạm giam từ ngày 07/7/2017 cho đến nay tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện D;“có mặt”.

2.Mai Thị Kim N, sinh năm 1990; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Khóm S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: khóm P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;  nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Tấn D (sinh năm 1968)và bà Nguyễn Thị V (sinh năm 1969); chồng: Nguyễn Xuân Bảo L (sinh năm 1990)và 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: bị cáo bị Cơ quan điều tra - Công an thành phố N khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản”theo Quyết định khởi tố số 266 ngày 24/7/2017; bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác, “có mặt”.

3. Trần  Văn T (tên gọi khác: B), sinh năm 1991; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 152/2 đường P, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: 154/6 đường P, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Chăn nuôi ; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (sinh năm 1958) và bà Lê Thị H (sinh năm 1963); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, “có mặt”.

- Người bị hại:

1.Chị Nguyễn Thị Ngọc B (G)- sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;“vắng mặt”.

2. Ông Huỳnh Chí T - sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa;“có mặt”.

3. Ông Vân Đ, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện D, tỉnh Khánh Hòa;“có mặt”.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Việt C - sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn P 1, xã A, huyện D, tỉnh Khánh Hòa;“vắng mặt”.

2. Ông Ngô Lê M - sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn P 3, xã A, huyện D, tỉnh Khánh Hòa;“vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thanh H và Mai Thị Kim N là đối tượng nghiện và sử dụng ma túy thường xuyên, thuê nhà trọ sống với nhau như vợ chồng. Chiều ngày 03/7/2017, H và N cùng nhau bàn bạc đi tìm xe mô tô để trộm cắp và bán lấy tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng. Khi đi, H mang theo bộ dụng cụ phá khóa xe gồm một cờ lê và một đoản phá khóa dẹp đầu, điều khiển xe mô tô BKS (biển kiểm soát) 79H1-357.51 chở N đến huyện D.Khi đi đến tiệm photo T (thuộc P 1, xã A) thấy có dựng nhiều xe mô tô, trong đó có xe mô tô hiệu Sirius, BKS 79N1-413.85 của chị Nguyễn Thị Ngọc B  không có người trông coi, H dùng bộ dụng cụ mang theo sẵn phá khóa xe mô tô BKS 79N1-413.85rồi điều khiển xe bỏ chạy. N đang cảnh giới cho H phía ngoài, thấy H lấy được xe, N điều khiển xe mô tô BKS 79H1-357.51 chạy theo H về hướng thành phố N. Ông Ngô Lê M đã chứng kiến toàn bộ sự việc nêu trên và điều khiển xe mô tô đuổi theo bắt giữ được Ngân cùng xe mô tô BKS 79H1-357.51. Sau đó, Mai Thị Kim N bị đưa về trụ sở Công an làm việc. Đến 20 giờ 25 phút cùng ngày, Đỗ Thanh H đến Công an đầu thú, giao nộp dụng cụ phá khóa xe và xe mô tô BKS 79N1-413.85.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 64 ngày 04/7/2017, Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận:Giá trị xe mô tô BKS 79N1-413.85 là 15.300.000 đồng (Mười lăm triệu ba trăm nghìn đồng).

Từ tháng 3 đến tháng 7/2017, Đỗ Thanh H và Mai Thị Kim N đã liên tục thực hiện nhiều vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn thành phố Nha Trang và huyện D. Hai bị cáo tự khai thêm hai vụ trộm cắp đã thực hiện địa bàn huyện D như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ một ngày giữa tháng 3/2017, H và N đi xe buýt từ thành phố N đến huyện D tìm xe máy để trộm cắp. Cả hai xuống xe buýt, đi bộ từ đường 23/10, phát hiện trước tiệm áo cưới A ((thuộc thôn P 3, xã Diên An) có để xe mô tô kiểu dáng Sirius BKS 79D1-445.45 của ông Huỳnh Chí T không có người trông coi. H dùng dụng cụ phá khóa phá được ổ khóa xe mô tô BKS 79D1-445.45, rồi điều khiển xe chở N theo đường 23/10 đi về hướng thành phố N. Sau đó cả hai tháo BKS 79D1-445.45 trên xe và thay bằng BKS khác (không xác định được số BKS). H và N bán chiếc xe nêu trên cho một người lạ mặt (không xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 81 ngày 22/9/2017, Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận:Giá trị của xe mô tô BKS 79D1-445.45 là 20.900.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Vào chiều ngày 28/5/2017, H điều khiển xe kiểu dáng Sirius (không xác định được BKS) chở N đến khu vực dốc B (thuộc thôn P, xã T, huyện D), tìm xe máy để trộm cắp. Phát hiện xe mô tô kiểu dáng Sirius, BKS 79D1-133.66 của ông Vân Đ đang để bên hông nhà, xe bị thủng lốp trước, không có người trông coi. H dùng đoản phá khóa phá ổ khóa xe mô tô BKS 79D1-133.66, điều khiển xe về hướng thành phố N và tìm nơi vá xe. N điều khiển xe Sirius đi theo. Tối cùng ngày, H và N bán xe mô tô trộm cắp được cho Trần Văn T với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Khi mua, T biết xe mô tô BKS 79D1-133.66 là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 76 ngày 21/8/2017, Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận:Giá trị xe mô tô BKS 79D1-133.66 là 16.875.000 đồng (Mười sáu triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Tổng cộng giá trị tài sản trộm cắp trong 3 vụ nêu trên là 53.075.000 đồng (Năm mươi ba triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số76/CT –VKS ngày 12/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện D đã truy tố: bị cáo Đỗ Thanh H và bị cáo Mai Thị Kim N về tội “Trộm cắp tài sản” theo  điểm e khoản 2 Điền 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản m1 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 1999

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo H và bị cáo N,xöû phaït bị cáo Đỗ Thanh H từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2017; xử phạt bị cáo Mai Thị Kim N từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án,

- Áp dụng khoản 1 Điền 250 của Bộ luật hình sự năm 1999, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo T, xöû phaït bị cáo Trần Văn T từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Các bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo đều hối hận về hành vi vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Người bị hại chị Nguyễn Thị Ngọc B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại hồ sơ vụ án, chỉ liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Bị cáo Đỗ Thanh H và bị cáo Mai Thị Kim N khai nhận quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Trần Văn T khai nhận quá trình thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đúng như nội dung bản cáo trạng mà VKSND huyeenj D truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nên bản cáo trạng số 76/CT –VKS ngày 12/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D là có căn cứ, đúng pháp luật, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”đối với bị cáo Đỗ Thanh H và bị cáo Mai Thị Kim N, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999; đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu  thụ tài  sản  do người khác phạm tội mà có”đối  với bị cáoTrần Văn T, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo H đã cùng bị cáo N bàn bạc và ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện D,nên thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, vai trò của bị cáo H trong vụ án tích cực hơn bị cáo N nên cần xem xét khi quyết định hình phạt. Bị cáo Trần Văn T biết tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua để sử dụng. Hành vi đó của các bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn làm cho cho tình hình trật tự tại địa phương càng trở nên phức tạp, nên cần phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, bị cáo H và bị cáo N thành khẩn khai khai báo,tự khai thêm hai vụ trộm cắp tại huyện D nên thuộc trường hợp tự thú,chưa có tiền án và tiền sự, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.Bị cáo H đến cơ quan Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Bị cáo Trần Văn T  đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường  hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn do tài sản đã giao nộp và trả lại cho chủ sở hữu, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Ông Vân Đ không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tách yêu cầu bồi thường của chị Nguyễn Thị Ngọc B để xét xử sau theo thủ tục tố tụng dân sự khi chị B có đơn khởi kiện.

Ông Huỳnh Chí T yêu cầu bị cáo H và bị cáo N liên đới bồi thường 20.900.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng), các bị cáo đồng ý bồi thường, nên ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại.Buộc bị cáo H và N chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho ông Huỳnh Chí T 20.900.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng), trong đó: Mỗi bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường 10.450.000 đồng (Mười triệu bốn trăm năm mươi nghin đồng

[5]. Về Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển vật chứng vụ án là xe mô tô có số máy 5C6K 204 387, số khung C6K0FY 204 378, 01 BKS 79H1-357.51mà hai bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cho Cơ quan điều tra - Công an thành phố N (BL180) để xem xét giải quyết trong vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01 (Một) bộ dụng cụ phá khóa xe là công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/01/2018 giữa Cơ quan điều tra - Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện D)

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H và bị cáo Mai Thị Kim N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Trần Văn T (tên gọi khác: B) phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Căn cứ Điểm e khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm r, s khoản 1 và  khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đỗ Thanh H và bị cáo Mai Thị Kim N.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thanh H 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2017.

Xử phạt: Bị cáo Mai Thị Kim N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 1999, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Văn T.

Xử phạt:Bị cáo Trần Văn T 09 (Chín)  tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa giám sát trong thời gian thử thách.Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Tách yêu cầu bồi thường của chị Nguyễn Thị Ngọc B thành vụ án dân sự khác khi có đơn khởi kiện.

Căn cứ Khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 586, Điều 587 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo H và N chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho ông Huỳnh Chí T 20.900.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng), trong đó:Mỗi bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường 10.450.000 đồng (Mười triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;tịch thu, tiêu hủy 01 bộ dụng cụ phá khóa xe (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/01/2018 giữa Cơ quan điều tra - Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện D)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo: Đỗ Thanh H, Mai Thị Kim N, Trần Văn T mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Đỗ Thanh H, bị cáo Mai Thị Kim N mỗi người phải nộp 522.500 đồng (Năm trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm

Quy định:  Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày  có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy đinh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hánh án dân sự..

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, những người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.Riêng chị Nguyễn Thị Ngọc B có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


115
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về