Bản án 111/2017/HNGĐ-PT ngày 19/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 111/2017/HNGĐ-PT NGÀY 19/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2017/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2017.

Do bản án sơ thẩm hôn nhân và gia đình số 02/2017/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 01 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 127/2017/QĐ -PT ngày 21 tháng 7 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2017/QĐ-PT ngày 09 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2017/QĐ-PT ngày 25 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự.

* Nguyên đơn: Anh Lê Chí Kiên-sinh năm 1982 ( Có mặt)

Trú tại: số 28, lô 1A, đường Trung Yên 11B, Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hiền Thương-sinh năm 1984 ( Vắng mặt có đơn đề nghi xét xử vắng mặt)

Trú tại: phòng 301, nhà A6A, khu tập thể Nam Trung Yên, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn Chung-sinh năm1952 ( Vắng mặt)

2. Bà Lê Thị Cẩm-sinh năm1960 ( Vắng mặt)

Cùng trú tại: số 28, lô 1A, đường Trung Yên 11B, Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội

Do có kháng cáo của bị đơn là chị Nguyễn Thị Hiền Thương

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

Về hôn nhân: Anh Lê Chí Kiên và chị Nguyễn Thị Hiền Thương kết hôn trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội ngày 28/06/2010. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng nhà với bố mẹ đẻ anh Kiên tại số 28, lô 1A, đường Trung Yên 11B, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Một thời gian sau, anh chị và con chung chuyển ra sống tại căn hộ chung cư của bố mẹ anh Kiên ở phòng 301, nhà A6A, khu Nam Trung Yên, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Theo anh Kiên, quá trình chung sống do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn sự tôn trọng lẫn nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn. Cụ thể, chị Thương quá tham công tiếc việc nên sinh non, anh Kiên đã giao thẻ lương của anh Kiên để chị Thương sử dụng vào cuộc sống chung gia đình nhưng chị Thương lại không sử dụng nên anh lấy lại… Vợ chồng anh đã sống ly thân kể từ ngày 01/01/2013 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Sau nhiều lần Tòa án tiến hành hòa giải, anh Kiên vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn chị Thương vì anh Kiên thấy rằng cách sống của chị Thương không phù hợp với anh. Về phía chị Thương cho rằng, vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, chị với bố mẹ chồng cũng không xảy ra mâu thuẫn gì. Anh Kiên hiện đang làm việc tại Công ty CP Xi măng Vicem Bút Sơn, cách nhà 70km. Anh Kiên có trao đổi về việc anh Kiên đề nghị ly hôn với chị nhưng chị không đồng ý, chị Thương có liên hệ với anh Kiên và bố anh Kiên để trao đổi mong hàn gắn tình cảm vợ chồng, đoàn tụ gia đình, nhưng anh Kiên không thay đổi ý kiến. Nay anh Kiên làm đơn xin ly hôn, chị Thương không đồng ý ly hôn vì mong muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình, muốn con chung có đầy đủ cả bố và mẹ.

Về con chung: Anh Kiên và chị Thương có 01 con chung tên là Lê Chính Nhân sinh ngày 27/05/2011. Hiện nay cháu Nhân đang ở cùng chị Thương. Khi ly hôn, anh Kiên có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu chị Thương cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh Kiên công tác tại Công ty cổ phần Xi măng Vicem Bút Sơn thu nhập bình quân khoảng 20.000.000 /1 tháng.

Nếu phải ly hôn chị Thương có nguyện vọng được nuôi cháu Nhân vì chị có khả năng đảm bảo về chỗ ở cho cháu, đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của con chung. Chị  Thương yêu cầu anh Kiên cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đồng/1tháng. Hiện nay, chị Thương làm dược sỹ tại Công ty TNHH Pharma Việt Nam thu nhập bình quân 23.000.000 đồng/tháng. Chị Thương cung cấp cho Tòa án Hợp đồng thuê nhà ngày 25/5/2015 với thời hạn thuê nhà 05 (năm) tại căn hộ số 503 chung cư 21 tầng tại dự án tiểu khu đô thị Nam La Khê, phường La Khê, Hà Đông, Hà Nội.

Về tài sản chung:  Trước khi Tòa án sơ thẩm ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị Thương và anh Kiên không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung. Tuy nhiên, sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2015/QĐXX- HNGĐ ngày 21/04/2015, chị Thương có đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng gồm có: 01 Máy giặt trị giá 2.000.000 đồng; 02 Đệm trị giá 1.000.000 đồng; 01Tủ bếp và sàn gỗ căn hộ tại phòng  số 301, nhà A6A khu tập thể Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội trị giá 5.000.000 đồng; 01Tủ và giá để giày dép trị giá 5.000.000đồng; Bát đĩa, xoong nồi, đồ gia dụng trị giá 1.000.000 đồng; 01 Bộ giàn phơi quần áo trị giá 1.000.000 đồng; 01 Điều hòa trị giá 3.000.000 đồng; 01 Đèn trị giá 500.000 đồng; Vòi nước, khu vệ sinh trị giá 1.000.000 đồng; Rèm trị giá 500.000 đồng. Tổng trị giá ước tính là 20.000.000đồng. Hiện chị Thương đang quản lý, sử dụng những tài sản trên. Căn hộ tại phòng 301, nhà A6A, khu tập thể Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội thuộc sở hữu của bố mẹ anh Kiên là ông Lê Văn Chung và bà Lê Thị Cẩm nên anh Kiên, chị Thương  không có tranh chấp gì.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành định giá đối với tài sản chị Nguyễn Thị Hiền Thương có đơn yêu cầu tại Phòng 301, nhà A6A khu tập thể Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Tại Biên bản định giá tài sản ngày 29/7/2015, hội đồng tiến hành định giá: 01 máy giặt Sannyo loại 7kg trị giá 2.000.000 đồng; 02 đệm tổng trị giá 1.000.000 đồng; 01 tủ bếp gỗ 2x1,2m trị giá 1.000.000 đồng; Sàn gỗ (02 phòng ngủ + 01 phòng khách) diện tích 42,25m2 làm năm 2013 trị giá 4.250.000 đồng; 01 tủ gỗ công nghiệp trị giá 4.000.000đồng; 01 giá để giày dép trị giá 1.000.000 đồng; 01 bộ nồi (gồm 03 nồi), 01 chảo, bát đũa, dao, thớt, mâm trị giá 1.000.000 đồng; 01 giàn phơi quần bằng inox 2,7m2  trị giá 1.000.000 đồng; 01 điều hòa National trị giá 3.000.000 đồng; 01 bộ đèn trang trí trị giá 500.000 đồng; 01 vòi nước lắp trong nhà vệ sinh trị giá 1.000.000 đồng; 02 mảnh rèm treo ở cửa sổ phòng ngủ (2,5m2x2,5m2) x 2 trị giá 500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 20.250.000 đồng. Ngoài những tài sản trên, hội đồng không tiến hành định giá tài sản nào khác. Các đương sự có mặt trong buổi định giá không có ý kiến gì về tổng trị giá tài sản.

Ngày 21/8/2015, chị Thương có đơn khiếu nại kết quả định giá tài sản ngày 29/7/2015 vì cho rằng Hội đồng định giá đã không thẩm định đúng kích thước đối với diện tích sàn gỗ, diện tích sàn gỗ do Tòa án đo là 42,25 là không đúng, thực tế là 40,613m2. Gờ quanh tường cao 8cm, chiều dài 38m, Nẹp rộng 3cm, chiều dài 5,27m. Đồng thời chị đề nghị Tòa án đã tiến hành thẩm định lại tài sản là sàn gỗ. Tại Biên bản định giá tài sản ngày 12/11/2015, Hội đồng định giá đã đo đạc và định giá lại sàn gỗ tại Phòng 301, nhà A6A khu tập thể Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội, cụ thể như sau: Sàn gỗ: Diện tích phòng khách: 3,08m2 x 6,67 m2 = 20,544m2

- Diện tích phòng ngủ 1: 3,15m2 x 3,35 = 10,553 m2

- Diện tích phòng ngủ 2: 3,04m2 x 3,3m2 = 10,032 m2

- Diện tích bậc cửa: 2,4m2 x 0,15m2 = 0,36m2

Tổng diện tích sàn gỗ là: 41,49m2

* Phào gỗ:

- Phòng khách: (6,67 x 3,08) x 2 = 19,5m2

- Phòng ngủ 1: (3,15 x 3,35) x 2 = 13,00 m2

- Phòng ngủ 2: (3,04 x 3,3) x 2 = 12,68m2

- Trừ bậc cửa chung là 1,66 m2

Tổng diện tích là: 43,52 m2

* Đơn giá của :

- Sàn gỗ: 41,49 x 300.000 đồng = 12.447.000 đồng

- Phào gỗ: 43,52 x 45.000 đồng = 1.958.000 đồng

- Đơn giá của sàn gỗ + phào (mới 100%): = 12.447.000 đồng + 1.958.000 đồng= 14.405.000 đồng

- Giá trị còn lại là 70% = 14.405.400 đồng x 70% = 10.083.780 đồng

Ngoài ra, Hội đồng định giá không định giá thêm tài sản nào khác.

Chị Thương tiếp tục có đơn khiếu nại ngày 25/11/2015 và ngày 25/12/2015 cho rằng quá trình định giá đã đo đạc không chính xác về diện tích sàn gỗ, phào gỗ, nẹp gỗ. Tòa án đã ra thông báo số 06/TB-TA ngày 08/03/2016 đề nghị chị Thương cung cấp tài liệu, chứng cứ về diện tích sàn gỗ, phào gỗ nhưng chị Thương không cung cấp và có làm đơn ngày 17/3/2016 yêu cầu Tòa án  mời tổ chức trung gian có chuyên môn đến đo đạc.  Ngày 28/4/2016, chị Thương tiếp tục có đơn đề nghị thẩm định, định giá lại tài sản. Tòa án đã tiến hành thẩm định và định giá lại tài sản ngày 23/6/2016, ngày 12/7/2016, ngày 28/7/2016 nhưng chị Thương đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành thẩm định và định giá được.

Về nợ: anh Kiên và chị Thương xác nhận không nợ ai và không cho ai nợ, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn Chung và bà Lê Thị Cẩm (bố mẹ đẻ của anh Lê Chí Kiên) có ý kiến như sau:

Điều kiện và thời gian kết hôn đúng như lời khai của anh Kiên và chị Thương. Sau khi kết hôn, hai anh chị có ở chung với gia đình ông bà tại địa chỉ số 28, lô 1A Trung Yên, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng Kiên, Thương có mâu thuẫn. Ông Chung và bà Cẩm chứng kiến nhiều lần vợ chồng cãi nhau, cả hai đều không tôn trọng nhau. Chị Thương có thái độ và hành động không tôn trọng gia đình ông bà. Dịp Tết nguyên đán năm 2013 (vào ngày 10/2/2014), chị Thương và anh Kiên cãi nhau, chị Thương đập phá đồ đạc trong nhà ông bà nên ông Chung phải mời công an đến để khuyên giải và mời chị Thương về căn hộ thuộc sở hữu của ông bà tại phòng số 301, nhà A6A khu tập thể Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội – đây là căn hộ ông Chung, bà Cẩm cho chị Thương và anh Kiên ở nhờ. Giữa chị Thương và bà Cẩm có bất đồng trong cách cư xử giữa mẹ chồng và nàng dâu. Ông Chung và bà Cẩm cũng nhiều lần tha thứ nhưng chị Thương không thay đổi và ngày càng quá quắt. Về con chung, anh Kiên, chị Thương có 01 con chung là Lê Chính Nhân sinh ngày 27/5/2011. Hiện cháu Nhân đang ở với chị Thương.

Về tài sản, căn hộ tại phòng 301, tầng 3, nhà A6A Khu đô thị mới Nam Trung Yên, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội mà chị Thương đang ở là tài sản thuộc sở hữu của ông Chung, bà Cẩm. Ông Chung, bà Cẩm chỉ cho chị Thương ở nhờ. Khi chị Thương có đơn yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng, ông Chung và bà Cẩm cũng đồng ý những tài sản mà chị Thương yêu cầu chia thuộc khối tài sản chung của anh Kiên và chị Thương. Đối với tủ bếp và sàn gỗ trị là tài sản gắn liền với căn nhà, ông bà sẽ thanh toán cho anh Kiên, chị Thương.

Ngoài ra, ông bà không có ý kiến gì.

Anh Kiên, chị Thương không có công sức gì đóng góp vào khối tài sản chung của hai ông bà. Căn hộ vẫn giữ nguyên hiện trạng, hai anh chị không sửa chữa, cải tạo gì thêm. Việc chị Thương ở nhờ nhà ông Chung bà Cẩm, ông bà không yêu cầu phải đóng góp hay nộp tiền thuê nhà. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh Kiên được nuôi con, ông bà yêu cầu chị Thương phải giao lại căn hộ trên cho ông bà. Trường hợp Tòa xử cho chị Thương được nuôi con, ông bà đồng ý cho chị Thương tiếp tục ở căn hộ trên và không yêu cầu thanh toán tiền thuê nhà. Khi nào chị Thương kết hôn với người khác, ông bà yêu cầu chị phải trả ngay căn hộ trên cho ông Chung và bà Cẩm.

Tại Biên bản xác minh ngày 14/5/2015, Tổ trưởng tổ dân phố số nơi anh Kiên và chị Thương chung sống - bà Đỗ Hoàng Yến phản ánh: Quá trình chung sống giữa anh Kiên và chị Thương xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống; vợ chồng hay cãi vã lẫn nhau, không tôn trọng nhau. Mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng hơn khi chị Thương đã chuyển ra ngoài, không còn chung sống với gia đình anh Kiên tại số nhà 28, lô 1A, đường Trung Yên 11B, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ngoài ra, chị Thương còn bất đồng quan điểm sống đối với bố mẹ chồng và em dâu khi chung sống với nhau. Nay anh Kiên làm đơn xin ly hôn chị Thương, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh Kiên và chị Thương có 01 con chung tên là Lê Chính Nhân, sinh năm 2011. Hiện nay cháu đang ở cùng chị Thương.

Về tài sản chung, tổ dân phố không rõ nên không thể cung cấp thông tin cho Tòa án.

* Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 02/2017/HNGĐ- ST ngày 19 và 24/01/2017 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã quyết định:

1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Chí Kiên  đối với chị Nguyễn Thị Hiền Thương. Cho anh Nguyễn Chí Kiên được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hiền Thương.

2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn thị Hiền Thương trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Chính Nhân sinh ngày 27/05/2011. Anh Kiên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng /1 tháng kể từ tháng 2/2017 cho đến khi con chung Lê Chính Nhân đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Không ai có quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung.

3/ Về tài sản chung: Xác định giá trị tài sản chung vợ chồng của anh Kiên và chị Thương gồm có: 01 máy giặt Sannyo loại 7kg trị giá 2.000.000 đồng; 02 đệm tổng trị giá 1.000.000 đồng; 01 tủ bếp gỗ 2x1,2m trị giá 1.000.000 đồng; Sàn gỗ (02 phòng ngủ + 01 phòng khách) diện tích 41,49m2 có trị giá là 10.083.780 đồng; 01 tủ gỗ công nghiệp trị giá 4.000.000 đồng; 01 giá để giày dép trị giá 1.000.000 đồng; 01 bộ nồi (gồm 03 nồi), 01 chảo, bát đũa, dao, thớt, mâm  trị giá 1.000.000 đồng; 01 giàn phơi quần bằn inox 2,7m2 trị giá 1.000.000 đồng; 01 điều hòa National trị giá 3.000.000 đồng; 01 bộ đèn trang trí trị giá 500.000 đồng; 01 vòi nước lắp trong nhà vệ sinh trị giá 1.000.000 đồng; 02 mảnh rèm treo ở cửa sổ phòng ngủ (2,5m2x2,5m2)   trị giá 500.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là: 26.083.780 (Hai mươi sáu triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi) đồng

Buộc ông Lê Văn Chung và bà Lê Thị Cẩm thanh toán cho anh Kiên và chị Thương giá trị Sàn gỗ (02 phòng ngủ + 01 phòng khách) diện tích 41,49m2 và tủ bếp  là 11.083.780 đồng. Chia phần ông Chung, bà Cẩm thanh toán cho chị Thương, anh Kiên mỗi người 5.541.890 (năm triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm chín mươi) đồng;

Giao toàn bộ tài sản còn lại bằng hiện vật gồm: 01 máy giặt Sannyo loại 7kg trị giá 2.000.000 đồng; 02 đệm tổng trị giá 1.000.000 đồng; 01 tủ gỗ công nghiệp trị giá 4.000.000 đồng; 01 giá để giày dép trị giá 1.000.000 đồng; 01 bộ nồi (gồm 03 nồi), 01 chảo, bát đũa, dao, thớt, mâm trị giá 1.000.000 đồng; 01 giàn phơi quần bằng inox 2,7m2 trị giá 1.000.000 đồng; 01 điều hòa National trị giá 3.000.000 đồng; 01 bộ đèn trang trí trị giá 500.000 đồng; 01 vòi nước lắp trong nhà vệ sinh trị giá 1.000.000 đồng; 02 mảnh rèm treo ở cửa sổ phòng ngủ (2,5m2x2,5m2)x 2 trị giá 500.000 đồng cho anh Kiên, sở hữu sử dụng. Tổng giá trị các tài sản trên là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu) đồng.  anh Kiên có trách nhiệm thanh toán cho chị Thương  bằng giá trị là 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.

Chị Thương được quyền lưu cư 06 tháng tại Số 301, nhà A6A khu tập thể Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật để lo chỗ ở mới.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

4/ Về án phí:   Anh Kiên phải nộp 200.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Kiên đã nộp đủ số tiền này tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 1700 ngày 16 tháng 01 năm 2015. Anh Kiên còn phải nộp 652.094 (Sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư) đồng án phí chia tài sản. Chị Thương phải nộp 652.094 (Sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư) đồng án phí chia tài sản, được trừ vào số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng chị Thương đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 1936 ngày 05 tháng 6 năm 2015 tại chi cục thi hành án quận Cầu Giấy, chị Thương còn phải nộp số tiền còn lại là 152.094  (Một trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư ) đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 10/3/2017 chị Nguyễn Thị Hiền Thương kháng cáo bản án sơ thẩm, cụ thể chị cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không triệu chị tham gia tố tụng, vi phạm tố tụng trong quá trình thu thập, xác minh và đánh giá chứng cứ, nội dung vụ án xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chị Thương và chị đề nghị xem xét được đoàn tụ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Chị Nguyễn Thị Hiền Thương kháng cáo vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử  vắng mặt chị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến và ®Ò nghÞ: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo qui định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị Hiền Thương, đơn làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận. Chị Thương kháng cáo hai nội dung chính, cụ thể chị cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng nên ảnh hưởng tới quyền lợi của chị và chị đề nghị được đoàn tụ vì xác định vợ chồng không mâu thuẫn. Qua xem xét thì tình cảm vợ chồng có mâu thuẫn, đã ly thân từ 2013 nên Tòa án cấp sơ thẩm cho ly hôn là có cơ sở. Luật sư và chị Thương đã được tống đạt, niêm yết về phiên tòa sơ thẩm đúng quy định nên không chấp nhận kháng cáo của chị Thương và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Thương nộp trong thời hạn nên được chấp nhận để xem xét. Tại phiên tòa ngày 09/8/2017 chị Thương xin hoãn phiên tòa lần thứ nhất và Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Tại phiê  tòa ngày 24/8/2014 chị Thương có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt chị, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa để triệu tập chị Thương trực tiếp tham gia phiên tòa nhằm xem xét khách quan toàn bộ nội dung kháng cáo, đảm bảo quyền lợi của chị Thương. Tại phiên tòa hôm nay chị Thương tiếp tục vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt chị, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị Thương.

2 . Đối với yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Hiền Thương cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không triệu chị tham gia tố tụng, vi phạm tố tụng trong quá trình thu thập, xác minh và đánh giá chứng cứ. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần triệu tập chị Thương đến Tòa án để tham gia hòa giải, các buổi định giá tài sản theo yêu cầu của chị và các phiên tòa cụ thể:

- Tại Biên bản tống đạt ngày15/6/2015 chị Nguyễn Thị Hiền Thương đã nhận và ký nhận Giấy triệu tập, Quyết định hoãn phiên tòa, Quyết định định giá tài sản số 16/2015/QĐ-ĐG ngày 10/6/2015. Sau chị Thương có đơn đề ngày 22/06/2015 đề nghị hoãn định giá tài sản.

- Tại Biên bản tống đạt ngày 03/7/2015 chị Nguyễn Thị Hiền Thương đã nhận và ký nhận Giấy triệu tập, Quyết định định giá tài sản ngày 02/7/2015. Tại buổi định giá ngày 09/7/2015, chị Thương vắng mặt không có lý do.

- Tại Biên bản ngày 14/7/2015, Tòa án đã lập biên bản về việc tống đạt không thành Giấy triệu đương sự và Quyết định định giá tài sản cho chị Nguyễn Thị Hiền Thương do chị Thương không có ở nhà. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật.

- Tại Biên bản tống đạt ngày 07/8/2015, chị Nguyễn Thị Hiền Thương đã nhận và ký nhận Giấy triệu tập đương sự và Thông báo kết quả định giá tài sản ngày 29/7/2015.

Ngày 20/8/2015 chị Nguyễn Thị Hiền Thương có đơn khiếu nại kết quả định giá và đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản. Theo đơn yêu cầu của chị Thương, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định định giá lại tài sản số 153/2015/QĐ-ĐG ngày 12/10/2015. Tại biên bản tống đạt ngày 14/10/2015 chị Thương đã nhận Giấy triệu tập, Quyết định định giá lại tài sản. Sau đó ngày 19/10/2015 chị Thương có đơn xin hoãn định giá.

- Tại Biên bản ngày 26/10/2015, Tòa án đã lập biên bản về việc tống đạt không thành Giấy triệu đương sự cho chị Nguyễn Thị Hiền Thương do chị Thương không có ở nhà. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật.

- Tại Biên bản ngày 21/12/2015, Tòa án đã lập biên bản về việc tống đạt không thành Thông báo kết quả định giá tài sản số 09/TB-TA ngày 12/11/2015 do chị Thương không có ở nhà. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật.

- Ngày 25/12/2015 chị Thương tiếp tục có đơn khiếu nại kết quả định giá ngày 12/11/2015. Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Thông báo cung cấp chứng cứ số 06/TB-TA ngày 08/3/2016 yêu cầu chị Thương cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung chị Thương khiếu nại.

- Tại biên bản ngày 15/3/2016 và ngày 22/3/2015 Tòa án đã lập biên bản về việc tống đạt không thành Thông báo cung cấp chứng cứ số 06/TB-TA ngày 08/3/2016 cho chị Nguyễn Thị Hiền Thương vì chị Thương không có ở nhà. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật. Ngày 17/3/2016 chị Thương làm đơn trình bày không thể cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và đề nghị Tòa án trưng cầu cơ quan chuyên môn đo đạc.

- Tòa án đã tống đạt Giấy triệu tập đương sự đề ngày 21/3/2016 yêu cầu chị Thương đến làm việc nhưng do chị Thương không có nhà nên Tòa án đã lập biên bản ngày 22/3/2016 về việc không tống đạt được và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật.

-  Tại biên bản ngày 11/4/2016 Tòa án đã lập biên bản về việc tống đạt không thành Thông báo nộp tiền chi phí đo đạc định giá tài sản số 01/TB-TA và Giấy triệu tập đương sự ngày 11/4/2016 cho chị Nguyễn Thị Hiền Thương vì chị Thương không có ở nhà. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật.

Ngày 27/4/2016 Tòa án cấp sơ thẩm đã có biên bản làm việc với chị Thương với nội dung giải thích quy định pháp luật liên quan đến nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản do chị Thương có đơn yêu cầu định giá lại tài sản. Sau khi được giải thích, chị Thương không trả lời, không đồng ý mức nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản của Tòa án. Sau đó chị Thương tiếp tục có đơn đề ngày 27/4/2016  yêu cầu định giá lại tài sản.

- Ngày 08/6/2016 Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định định giá lại tài sản số 04/2016/QĐ-ĐG để tiến hành định giá vào ngày 23/6/2016 và đã tiến hành tống đạt Quyết định định giá lại tài sản, Quyết định xem xét thẩm định và Giấy triệu tập đương sự cho chị Thương nhưng do chị Thương không có nhà nên ngày 08/6/2017 Tòa án đã lập biên bản tống đạt không thành và niêm yết văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Tại buổi định giá ngày 23/6/2016 chị Thương vắng mặt.

- Tại biên bản ngày 23/6/2016 Tòa án đã lập biên bản về việc tống đạt không thành Giấy triệu tập đương sự để tham gia buổi xem xét thẩm định và định giá  lại tài sản ngày 12/7/2016 đối với chị Thương và niêm yết Giấy triệu tập theo quy định pháp luật. Ngày 11/7/2016 chị Thương có đơn xin hoãn và vắng mặt tại buổi định giá tài sản ngày 12/7/2016.

- Tòa án tiếp tục tống đạt Giấy triệu tập cho chị Thương tham gia buổi xem xét thẩm định, định giá lại vào ngày 28/7/2016. Do chị Thương không có nhà nên ngày 12/7/2016 Tòa án đã lập biên bản tống đạt không thành và niêm yết văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Tại buổi xem xét thẩm định, định giá lại ngày 28/7/2016 chị Thương vắng mặt.

- Tại biên bản tống đạt ngày 29/7/2015 và biên bản tống đạt ngày 12/8/2015 chị Nguyễn Thị Hiền Thương đã nhận và ký nhận Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên hòa giải ngày 29/7/2015 và ngày 11/8/2015.

- Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25/8/2016, 12/9/2016, do chị Thương vắng mặt nên Tòa án đã ra Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của các ngày 25/8/2016, 12/9/2016. Các văn bản tố tụng nêu đều được tống đạt cho chị Thương nhưng do chị Thương không có nhà nên Tòa án đã lập biên bản tống đạt không thành và niêm yết văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

- Tại Biên bản tống đạt ngày 13/12/2016 và ngày 31/12/2016 Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt Thông báo về phiên tòa sơ thẩm và Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Thương nhưng do chị Thương không có nhà, không có người nhận thay nên Tòa án cấp sơ thẩm đã lập biên bản tống đạt không thành và niêm yết văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

Bên cạnh đó luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Nguyễn Thị Hiền Thương cũng đã được Tòa án mời để tham gia các buổi hòa giải, xem xét thẩm định và định giá tài sản, các phiên tòa (Bút lục 341)

Như vậy, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng đối với chị Nguyễn Thị Hiền Thương. Về phía chị Nguyễn Thị Hiền Thương  mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và là người có yêu cầu định giá lại tài sản nhưng lại không hợp tác, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không căn cứ xem xét về yêu cầu kháng cáo của chị Thương đối với hoạt động tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm.

Đối với yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Hiền Thương đề nghị xem xét bác đơn xin ly hôn của anh Lê Chí Kiên để anh chị được đoàn tụ. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hiền Thương và anh Lê Chí Kiên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2013, qua các lời trình bày của hai bên đương sự thì nổi lên chị Thương và anh Kiên mâu thuẫn với các lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Bên cạnh đó, chị Thương và gia đình chồng cũng có mâu thuẫn. Năm 2014 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã từng ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do chị Thương đề nghị anh Kiên rút đơn khởi kiện để vợ chồng có thời gian hàn gắn mâu thuẫn. Tuy nhiên, từ năm 2014 đến nay tình cảm vợ chồng cũng không được cải thiện.

Xét thấy, trong thời gian sống ly thân từ năm 2013 đến nay anh Kiên và chị Thương vẫn không thông cảm được cho nhau, không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Kiên và chị Thương đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mặc dù hai bên đã có thời gian để cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả, giữa vợ chồng anh Kiên và chị Thương không còn quan tâm đến nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy quyết định cho chị Hương được ly hôn là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó cấp phúc thẩm thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Thương về việc không đồng ý ly hôn và cần giữ giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm

Án phí:

- Anh Lê Chí Kiên phải nộp 200.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Kiên đã nộp đủ số tiền này tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 1700 ngày 16/01/2015 của Chi cục thi hành án quận Cầu Giấy. Anh Kiên còn phải nộp 652.094 (Sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư) đồng án phí chia tài sản.

- Chị Nguyễn Thị Hiền Thương phải nộp 652.094 (Sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư) đồng án phí chia tài sản, được trừ vào số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng chị Thương đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 1936 ngày 05/6/2015 của Chi cục thi hành án quận Cầu Giấy, chị Thương còn phải nộp số tiền còn lại là 152.094 đồng (Một trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư ).

- Chị Nguyễn Thị Hiền Thương phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn phúc thẩm chị Thương đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo biên lai thu tiền số 1396 ngày 21/3/2017 của Chi cục thi hành án quận Cầu Giấy.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 315 Bộ luật tố tụng dân sự;

-  Khoản 1 điều 56, 59, điều 60, điều 63 81,82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Pháp lệnh án phí lệ phí Toà án và tiểu mục 1 mục I danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng  2 năm 2009. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về nội dung: Giữ nguyên bản án sơ thẩm và xử

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Chí Kiên đối với chị Nguyễn Thị Hiền Thương. Cho anh Nguyễn Chí Kiên được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hiền Thương.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hiền Thương trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Chính Nhân sinh ngày 27/05/2011. Anh Kiên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng /1 tháng kể từ tháng 2/2017 cho đến khi con chung Lê Chính Nhân đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Kiên có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn trở.

3. Về tài sản chung:

- Xác định giá trị tài sản chung vợ chồng của anh Kiên và chị Thương gồm có: 01 máy giặt Sannyo loại 7kg trị giá 2.000.000 đồng; 02 đệm tổng trị giá 1.000.000 đồng; 01 tủ bếp gỗ 2x1,2m trị giá 1.000.000 đồng; Sàn gỗ (02 phòng ngủ + 01 phòng khách) diện tích 41,49m2 có trị giá là 10.083.780 đồng; 01 tủ gỗ công nghiệp trị giá 4.000.000 đồng; 01 giá để giày dép trị giá 1.000.000 đồng; 01 bộ nồi (gồm 03 nồi), 01 chảo, bát đũa, dao, thớt, mâm trị giá 1.000.000 đồng; 01 giàn phơi quần bằng inox 2,7m2 trị giá 1.000.000 đồng; 01 điều hòa National trị giá 3.000.000 đồng; 01 bộ đèn trang trí trị giá 500.000 đồng; 01 vòi nước lắp trong nhà vệ sinh trị giá 1.000.000 đồng; 02 mảnh rèm treo ở cửa sổ phòng ngủ (2,5m2x2,5m2) trị giá 500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là: 26.083.780 (Hai mươi sáu triệu không trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi) đồng

- Buộc ông Lê Văn Chung và bà Lê Thị Cẩm thanh toán cho anh Kiên và chị Thương giá trị Sàn gỗ (02 phòng ngủ + 01 phòng khách) diện tích 41,49m2 và tủ bếp  là 11.083.780 đồng. Chia phần ông Chung, bà Cẩm thanh toán cho chị Thương, anh Kiên mỗi người 5.541.890 năm triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm chín mươi) đồng;

- Giao toàn bộ tài sản còn lại bằng hiện vật gồm: 01 máy giặt Sannyo loại 7kg trị giá 2.000.000 đồng; 02 đệm tổng trị giá 1.000.000 đồng; 01 tủ gỗ công nghiệp trị giá 4.000.000 đồng; 01 giá để giày dép trị giá 1.000.000 đồng; 01 bộ nồi (gồm 03 nồi), 01 chảo, bát đũa, dao, thớt, mâm trị giá 1.000.000 đồng; 01 giàn phơi quần bằng inox 2,7m2 trị giá 1.000.000 đồng; 01 điều hòa National trị giá 3.000.000 đồng; 01 bộ đèn trang trí trị giá 500.000 đồng; 01 vòi nước lắp trong nhà vệ sinh trị giá 1.000.000 đồng; 02 mảnh rèm treo ở cửa sổ phòng ngủ (2,5m2x2,5m2)x 2 trị giá 500.000 đồng cho anh Kiên, sở hữu sử dụng. Tổng giá trị các tài sản trên là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu) đồng.  anh Kiên có trách nhiệm thanh toán cho chị Thương  bằng giá trị là 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.

Chị Thương được quyền lưu cư 06 tháng tại số 301, nhà A6A khu tập thể Nam Trung Yên, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật để lo chỗ ở mới.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

4. Về án phí:

- Anh Lê Chí Kiên phải nộp 200.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Kiên đã nộp đủ số tiền này tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 1700 ngày 16/01/2015 của Chi cục thi hành án quận Cầu Giấy. Anh Kiên còn phải nộp 652.094 đồng (Sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư) án phí chia tài sản.

- Chị Nguyễn Thị Hiền Thương phải nộp 652.094 đồng (Sáu trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư) án phí chia tài sản, được trừ vào số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn) chị Thương đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 1936 ngày 05/6/2015 của Chi cục thi hành án quận Cầu Giấy, chị Thương còn phải nộp số tiền còn lại là 152.094 đồng (Một trăm năm mươi hai nghìn không trăm chín mươi tư).

- Chị Nguyễn Thị Hiền Thương phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn phúc thẩm chị Thương đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo biên lai thu tiền số 1396 ngày 21/3/2017 của Chi cục thi hành án quận Cầu Giấy.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


120
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 111/2017/HNGĐ-PT ngày 19/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:111/2017/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/09/2017
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về