Bản án 109/2020/HS-PT ngày 19/09/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 109/2020/HS-PT NGÀY 19/09/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 19 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2020/TLPT- HS ngày 25 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Phát Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2020/HSST ngày 15/06/2020 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Phát Đ, sinh năm: 1991 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Khu vực Q, phường H, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Đ1, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị B1 (c); có vợ Nguyễn Thanh C, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Quốc Việt – Văn phòng luật sư Bình Nguyên thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ.

Nhng người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan không có đơn kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/01/2020, Nguyễn Phát Đ, Nguyễn Quốc T1, Đoàn Hoàng A, Nguyễn Văn C1 cùng nhau chơi lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền tại khu đất trống phía sau cây xăng C2 thuộc khu vực P, phường H, quận T, thành phố Cần Thơ. Dụng cụ lắc tài xỉu là do T1 chuẩn bị gồm: 01 cái dĩa, 03 hột xí ngầu, 01 nắp nhựa. Hình thức chơi là người làm nhà cái lắc các hột xí ngầu để tính thắng thua trực tiếp với những người đặt tụ; tổng các hột xí ngầu 11 nút trở lên là tài, còn dưới 11 nút là xỉu, mỗi tụ đặt số tiền từ 10.000 đồng đến 150.000 đồng.

Khi bắt đầu chơi thì Nguyễn Văn C1 là người làm nhà cái, C1 làm nhà cái được khoảng 05 ván thì chuyển lại cho Đ làm nhà cái; khi Đ làm nhà cái thì có thêm Võ Văn T2 và Kim D đến tham gia chơi và đặt tụ cùng với Nguyễn Quốc T1, Đoàn Hoàng A và Nguyễn Văn C1.

Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Đội Cảnh sát hình sự Công an quận T phát hiện bắt quả tang cùng tang vật gồm: 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu; 01 bàn nhựa; 03 ghế nhựa và tiền Việt Nam là 60.594.000 đồng (Thu trên chiếu bạc là 3.830.000 đồng gồm: Đ 2.870.000 đồng, Hoàng A 330.000 đồng, T1 350.000 đồng, Kim D 280.000 đồng. Thu trên người các đối tượng gồm: Đ 35.000.000 đồng, Hoàng A 8.700.000 đồng, T2 1.969.000 đồng, Kim D 4.415.000 đồng, C1 6.510.000 đồng và T1 170.000 đồng).

Quá trình điều tra đã xác định được tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 15.990.000 đồng, trong đó: Đ sử dụng số tiền 12.870.000 đồng, không thắng thua; Hoàng A sử dụng số tiền 250.000 đồng, thắng 80.000 đồng; T2 sử dụng số tiền 550.000 đồng, thua 50.000 đồng; D sử dụng số tiền 200.000 đồng, thắng 80.000 đồng; C1 sử dụng số tiền 1.500.000 đồng, thua 10.000 đồng; T1 sử dụng số tiền 500.000 đồng, thắng 20.000 đồng.

Ngoài ra, ngày 16/01/2020, Nguyễn Văn Đ2 có tham gia lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền với T1, Hoàng A, D và Đ tại địa điểm nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho Nguyễn Văn C1 5.020.000 đồng, Võ Văn T2 1.469.000 đồng, Đoàn Hoàng A 8.700.000 đồng, Kim D 4.415.000 đồng do không có liên quan đến việc đánh bạc.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2020/HSST ngày 15/6/2020 của Tòa án nhân dân quận T đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phát Đ phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phát Đ 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, vào ngày 22/6/2020, bị cáo Nguyễn Phát Đ có đơn kháng cáo xin giảm án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo xin xem xét lại số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc do bị cáo chỉ sử dụng số tiền 2.870.000 đồng để đánh bạc và xin cho bị cáo được hưởng án treo, xin miễn hình phạt bổ sung. Bị cáo không bổ sung chứng cứ về các tình tiết mới. Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng án treo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Luật sư đề nghị xem xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo vì bị cáo đi làm thuê, về quê chơi tết nên có tham gia đánh bạc và bị bắt quả tang nhưng dụng cụ chơi đánh bạc là do Nguyễn Quốc T1 chuẩn bị. Về nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị xem xét lại số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc vì bị cáo chỉ sử dụng số tiền 2.870.000 đồng dùng để đánh bạc và để tại chiếu bạc, số tiền còn lại bị cáo còn để trong túi và dùng để trị bệnh cho cha. Ngoài ra, trong vụ án còn có nhiều người cùng tham gia đánh bạc nhưng chưa bị xử lý là còn bỏ lọt tội phạm. Do đó, Luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Kim sát viên nhận định: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo; đã có xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt phạt đối với bị cáo nên mức án đã tuyên là không cao. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không bổ sung thêm chứng cứ về các tình tiết mới, các lý do kháng cáo đã được xem xét tại cấp sơ thẩm và sẽ được xem xét trong quá trình chấp hành án nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đã tuân thủ các quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

[1] Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức pháp luật nhưng đam mê cờ bạc. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vào ngày 18/01/2020 bị cáo bị bắt quả tang khi đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền bằng hình thức lắc tài xỉu. Khi bị bắt, bị cáo đang làm nhà cái để thắng thua với các tụ đặt gồm: Nguyễn Quốc T1, Đoàn Hoàng A, Võ Văn T2, Kim D và Nguyễn Văn C1 tại khu đất trống phía sau cây xăng C2 thuộc khu vực P, phường H, quận T, thành phố Cần Thơ. Tiền thu tại chiếu bạc là 3.830.000 đồng, tổng số tiền chứng minh được dùng vào việc đánh bạc là 15.990.000 đồng, trong đó số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 12.870.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 của điều luật này là có căn cứ.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm trong xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương; thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Hiện nay loại tội phạm này còn diễn ra nhiều với thủ đoạn ngày càng phức tạp nên việc xử lý nghiêm là cần thiết, mới đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp, mức án đã tuyên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Bị cáo kháng cáo nhưng không bổ sung thêm chứng cứ về các tình tiết mới, các lý do kháng cáo của bị cáo đã được xem xét ở cấp sơ thẩm và sẽ được xem xét trong quá trình bị cáo chấp hành án.

Ti phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và luật sư bào chữa cho rằng chỉ sử dụng số tiền 2.870.000 đồng vào việc đánh bạc, số tiền đánh bạc 12.870.000 đồng là do cán bộ điều tra tự ghi là không có căn cứ, bởi lẽ: Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo đã tự nguyện khai báo, đã được đọc lại và đồng ý ký tên, bị cáo tự viết tờ tự khai thừa nhận hành vi phạm tội; biên bản hỏi cung có Kiểm sát viên tham gia; tại phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai bị cáo tự nguyện khai báo số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 12.870.000 đồng. Mặt khác, trước khi bị cáo làm nhà cái thì bị cáo tham gia đặt tụ khoảng 4 đến 5 ván nhưng đã thua 700.000 đồng nên khi bị cáo làm nhà cái phải chuẩn bị số tiền lớn hơn để trực tiếp thắng thua với các con bạc như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp. Những người cùng tham gia đánh bạc với bị cáo (đặt tụ) cũng thừa nhận hành vi đánh bạc nhưng số tiền những người này thừa nhận sử dụng vào việc đánh bạc và đã chứng minh được đã dùng vào việc đánh bạc là từ 200.000 đồng đến 1.500.000 đồng nên họ đã được giải quyết trả lại số tiền cá nhân còn lại không dùng vào việc đánh bạc. Còn bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo vẫn thừa nhận sử dụng số tiền 12.870.000 đồng vào việc đánh bạc. Do đó, việc bị cáo cho rằng chỉ sử dụng số tiền 2.870.000 đồng để đánh bạc là lời nại ra của bị cáo, quanh co chối tội của bị cáo.

Do bị cáo sử dụng số tiền 12.870.000 đồng vào việc đánh bạc và là nhà cái trực tiếp thắng thua với các con bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước và phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước là phù hợp. Đối với số tiền thu giữ của bị cáo còn lại sẽ được nhận lại trong quá trình thi hành án.

Hiện nay tội phạm đánh bạc còn diễn ra nhiều, với thủ đoạn ngày càng tinh vi phức tạp, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này là cần thiết để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ. Do không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư nên giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phát Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phát Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


101
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 109/2020/HS-PT ngày 19/09/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:109/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về