Bản án 109/2017/HNGĐ-ST ngày 20/07/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình - xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 109/2017/HNGĐ-ST NGÀY 20/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH - XIN LY HÔN

Ngày 20 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2017/QĐXX-ST ngày 13 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ông Trần Văn H - Sinh năm 1977. Có mặt.

Địa chỉ: Ấp BH B, xã BTT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.

+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ X - Sinh năm 1982. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số 312, ấp KH2, xã KT, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Như trình bày:

Về hôn nhân: Anh H và chị X xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Hôn nhân do tự tìm hiểu, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, vợ tự ý bỏ nhà đi năm 2016. Vợ chồng ly thân từ năm 2016 đến nay. Gia đình hai bên không giàn xếp, vợ chồng không đến hàn gắn với nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ X.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 20.02.2013 hiện đang do anh H nuôi dưỡng, yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Không có.

Về nợ: Không có.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng chị không đến tham gia tố tụng, không gửi ý kiến bằng văn bản, nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với chị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy chị X chấp hành pháp luật tố tụng chưa nghiêm. Về giải quyết vụ án, hôn nhân giữa anh H và chị X là hợp pháp vì có đăng ký kết hôn. Vợ chồng mâu thuẫn và có thời gian dài ly thân không thể hàn gắn và anh H đang nuôi con, yêu cầu được ly hôn và tiếp tục nuôi con chung của anh H có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị Mỹ X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung

[2.1]. Hôn nhân giữa anh Trần Văn H và chị Nguyễn Thị Mỹ X là hợp pháp vì anh chị có đăng ký kết hôn. Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thấy rằng vợ chồng mâu thuẫn chị X bỏ đi làm công nhân ở Bình Dương và không chung sống với nhau từ năm 2016 đến nay, không ai quan tâm đến nhau. Qua xác minh tại địa phương cũng nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn và không còn sống chung nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 20.02.2013 đang sống với anh H, anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung hiện do anh H nuôi dưỡng cuộc sống đã ổn định. Vì vậy, nghĩ nên tiếp tục giao con chung cho anh H nuôi dưỡng, chị X không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị X không trực tiếp nuôi con chung nhưng được quyền tới lui thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này, vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3]. Về tài sản: Không có.

Về nợ chung: Ghi nhận anh H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[2.4]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; anh H phải chịu án phí HNST là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn H xin ly hôn chị Nguyễn Thị Mỹ X. Giấy chứng nhận kết hôn số: 93 ngày 26.7.2012 của Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cấp cho anh H và chị X không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Anh Trần Văn H được nuôi con chung tên Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 20.02.2013, chị X không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị X được quyền tới lui thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này, vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản: Không có.

4. Về nợ chung: Ghi nhận anh H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Trần Văn H phải chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0013666 ngày 03/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án. Riêng chị X được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 109/2017/HNGĐ-ST ngày 20/07/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình - xin ly hôn

Số hiệu:109/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về