Bản án 108/2019/HS-ST ngày 20/09/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 108/2019/HS-ST NGÀY 20/09/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Văn C (tên gọi khác: C), sinh năm 1993 tại Bình Phước; nơi cư trú ấp 06, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Xuân T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972, bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án 01: Ngày 24/5/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Đ (nay là Thành phố Đ) xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy” (Tại bản án số 52/2017/HSST ngày 24/5/2017), tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2019 cho đến nay “bị cáo có mặt”.

Ni bị hại:

Anh Điểu Đ, sinh năm 2000; nơi cư trú thôn 05, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt”;

Anh Lê Việt D, sinh năm 1991; nơi cư trú ấp 02, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “có mặt”;

Anh Nguyễn Bảo A, sinh năm 1996; nơi cư trú ấp 07, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau “có đơn xin xét xử vắng mặt”.

Ni có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Điểu M, sinh năm 1978; nơi cư trú thôn 05, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt”;

Chị Lê Thị Thanh L, sinh năm 1988; nơi cư trú ấp 02, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước “có đơn xin xét xử vắng mặt”;

Ông Trần Quang Vinh, sinh năm 1979; nơi cư trú thôn 05, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận “vắng mặt”.

Ni làm chứng:

Anh Điểu Tài, sinh năm 1994; nơi cư trú thôn 05, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 07/12/2018 đến ngày 08/01/2019 Lê Văn C đã ba lần mượn xe mô tô của người khác rồi đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07/12/2018, Lê Văn C đang ở nhà nghỉ “H” thuộc ấp 01, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì có Điểu Đ điều khiển xe môtô Yamaha Exciter biển số: 93L1-296.77 chở theo anh Điểu T đến gặp và nhờ C tìm mua ma túy về sử dụng thì C đồng ý. Sau đó Đ đưa xe mô tô cho C điều khiển chở Đ và T đi đến quán cà phê “Đ” thuộc ấp 01, xã T, thành phố Đ thì C kêu Đ và Tài vào quán uống cà phê chờ C mua ma túy. Sau đó C điều khiển xe mô tô của Đ đi tìm mua ma túy nhưng không có nên C vào tiệm game bắn cá “C” thuộc phường T, thành phố Đ chơi game bắn cá. Sau khi chơi thua hết số tiền mang theo C nảy sinh ý định đem xe môtô Yamaha Exciter biển số 93L1-296.77 của Điểu Đ đi cầm lấy tiền chơi game bắn cá. Lúc này C điện thoại cho “C” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cầm xe với giá tiền 15.000.000 đồng. Số tiền cầm xe C dùng để chơi game bắn cá và tiều xài cá nhân hết. Đến ngày 10/12/2018 Điểu Đ không thấy C trả xe nên đến Công an xã T trình báo sự việc trên, chiếc xe hiện chưa thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KLĐG ngày 14/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 93L1-296.77, số máy G3D4E327759, số khung 0610GY5, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường trị giá 30.000.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 22 giờ ngày 17/12/2018, Lê Văn C thuê phòng (không nhớ số phòng) tại nhà nghỉ “Đ” thuộc ấp 3, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước và anh Lê Việt D thuê phòng số 02 của nhà nghỉ “Đ”. C đến phòng của D ngồi chơi. Sau đó C hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 93P2-003.10 của D nói đi mua nước uống thì anh D đồng ý. Sau khi đi mua nước xong, trên đường về nhà nghỉ “Đ” C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh D để đem đi cầm cố lấy tiền chơi game bắn cá. Lúc này C đến tiệm game bắn cá “10K” thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước thì gặp T (không rõ nhân thân, lai lịch) cầm xe cho T được 10.000.000 đồng. Số tiền cầm xe C đã chơi game bắn cá thua hết nên C đã bỏ trốn khỏi địa phương, chiếc xe hiện chưa thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 66/KLĐG ngày 05/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận: 01 môtô nhãn hiệu Honda Winner biển số: 93P2-003.10, số máy KC26E-1037710, số khung 2605GY0025927, đã qua sử dụng, còn hoạt dộng bình thường, có giá là 34.100.000 đồng (Ba mươi tư triệu một trăm nghìn đồng).

Lần thứ ba: khoảng 03 giờ 00 phút ngày 08/01/2019, Lê Văn C Đ ở phòng 107 của nhà nghỉ “T” thuộc ấp 01, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước định ra đường đón xe taxi đi mua car điện thoại về chơi game thì có Nguyễn Bảo A đến thuê phòng, C đến gặp A hỏi mượn xe mô tô đi mua card điện thoại thì A đồng ý đưa xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển số 86H2-0043 cho C mượn. Sau khi C mua card điện thoại xong, trên đường về C nảy sinh ý định tháo lốc máy và bô xe mô tô của A bán lấy tiền chơi game bắn cá. Lúc này C điều khiển xe mô tô trên đến gặp Vũ Quốc V (tên gọi là B) và H (không rõ nhân thân, lai lịch) C hỏi V “Có chỗ nào đổi lốc máy và bô xe không” thì V nói không có rồi V đi về. Lúc này H nói “Có, tôi có xe Wave bạn đổi qua cho tôi thì tôi đưa bạn 800.000 đồng” thì C đồng ý. Sau đó C và H tháo đổi lốc máy và bô xe của A qua xe của H, C lấy 800.000 đồng của H đưa rồi điều khiển xe mô tô về trả cho A và dùng số tiền trên chơi game bắn cá thua hết. Cùng ngày A kiểm tra xe thì phát hiện lốc máy và bô xe của mình bị đổi nên đã đến Công an xã T trình báo sự việc trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KLĐG ngày 28/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận:

01 bộ lốc máy nhãn hiệu Honda Wave đã qua sử dụng, có giá bán trên thị trường 3.250.000 đồng/bộ máy. 01 bô xe của dòng xe Honda Wave đã qua sử dụng, có giá bán trên thị trường 675.000 đồng/bô xe. Tổng cộng 3.925.000 đồng (Ba triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 126/KLĐG ngày 29/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận:

01 chiếc xe mô tô Honda Wave, biển số 86H2 - 0043, số khung HHC 09005Y039807, số máy HC 09E-5073084 đã qua sử dụng, Đ hoạt động có giá bán trên thị trường 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) Ngày 09/01/2019, Lê Văn C đã đến Công an thành phố Đ để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đãthu giữ: 01 xe mô tô Honda Wave màu đỏ đen biển số 86H2-0043, số khung HHC 09005Y039807, số máy 152FM00041576 (Không trùng với số máy HC09E-5073084 trên giấy chứng nhận đăng ký xe số 0117023 biển số 86H2-0043).

Tại Bản cáo trạng số 62/CT-VKS-ĐX ngày 06/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn C mức án từ 36 đến 42 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc tại phiên tòa bị cáo Lê Văn C đồng ý bồi thường cho ông Điểu Mét số tiền 30.000.000 đồng; bồi thường cho anh Lê Việt D số tiền 34.100.000 đồng và bồi thường cho anh Nguyễn Bảo A số tiền 7.200.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 86H2-0043, số khung HHC 09005Y039807, số máy 152FM00041576 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 86H2-0043 mang tên Trần Quang V.

Bị cáo C tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 62/CT-VKS-ĐX ngày 06/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản người phạm tội ra đầu thú, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân và chơi game nên vào các ngày 07/12/2018, 17/12/2018 và 08/01/2019 sau khi mượn xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 93L1-296.77 của anh Điểu Đ; mượn xe môtô nhãn hiệu Honda Winner biển số: 93P2-003.10 của anh Lê Việt D và mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số: 86H2-0043 của anh Nguyễn A để đi công việc, sau đó Lê Văn C đã đem cầm cố, thay đổi lốc máy, bô xe để nhằm chiếm đoạt.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KLĐG ngày 14/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 93L1-296.77, số máy G3D4E327759, số khung 0610GY5, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường trị giá 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 66/KLĐG ngày 05/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận: 01 môtô nhãn hiệu Honda Winner biển số: 93P2-003.10, số máy KC26E-1037710, số khung 2605GY0025927, đã qua sử dụng, còn hoạt dộng bình thường, có giá là 34.100.000 đồng (Ba mươi tư triệu một trăm nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 18/KLĐG ngày 28/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ kết luận: 01 bộ lốc máy nhãn hiệu Honda Wave đã qua sử dụng, có giá bán trên thị trường 3.250.000 đồng/bộ máy. 01 bô xe của dòng xe Honda Wave đã qua sử dụng, có giá bán trên thị trường 675.000 đồng/bô xe. Tổng cộng 3.925.000 đồng (Ba triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Căn cứ vào hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 68.025.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ truy tố bị cáo về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Bị cáo là người đã thành niên, hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu trong việc giao tài sản quản lý để chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích tiêu xài cá nhân và chơi game mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại, là khách thể được pháp luật bảo vệ, bản thân bị cáo đã có 01 tiền án: Ngày 24/5/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Đ (nay là Thành phố Đ) xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chat ma túy” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do đó lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng hình phạt là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên ngoài việc xem xét giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt làm tình tiết định khung bị cáo còn phải chịu thêm tình tiết tăng nặng hình phạt là “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tộị, tại phiên tòa người bị hại anh Điểu Đ và anh Lê Việt D xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

Đối với đối tượng tên C, T và H, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đ đang tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa người bị hại anh Lê Việt D yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 34.100.000 đồng tương ứng với giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt. Bị cáo C tại phiên tòa cũng đồng ý bồi thường số tiền trên cho người bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 93L1-296.77 bị cáo chiếm đoạt của người bị hại anh Điểu Đ là tài sản hợp pháp của ông Điểu M. Tại phiên tòa ông Điểu M và anh Điểu Đ thống nhất yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho ông Điểu M. Bị cáo C đồng ý bồi thường số tiền trên nên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 86H2-0043, số khung HHC 09005Y039807, số máy 152FM00041576 hiện không thu hồi được lốc máy và bô xe theo giấy đăng ký xe nên không có cơ sở để trả lại chiếc xe trên cho người bị hại anh Nguyễn Bảo A, do đó cần buộc bị cáo C phải có trách nhiệm bồi thường giá trị chiếc xe cho người bị hại Nguyễn Bảo A với số tiền 7.200.000 đồng theo kết luận định giá tài sản số 126/KLĐG ngày 29/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Thành phố Đ.

[8] Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 86H2-0043, số khung HHC 09005Y039807, số máy 152FM00041576 (đã bị đổi lốc máy và bô xe không đúng với số máy HC09E-5073084 trên giấy đăng ký xe) và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 86H2-0043 mang tên Trần Quang V do không đủ điều kiện sử dụng tham gia giao thông trên đường nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đ tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 09/01/2019.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buc bị cáo Lê Văn C phải bồi thường cho ông Điểu M số tiền 30.000.000 đồng; bồi thường cho anh Lê Việt D số tiền 34.100.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Bảo A số tiền 7.200.000 đồng.

“Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015”.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

4. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển số 86H2 - 0043, số khung HHC 09005Y039807, số máy 152FM00041576 xe không dè, không bửng, không kiếng chiếu hậu, đã cũ và không chạy được (đã bị đổi lốc máy và bô xe không đúng với giấy đăng ký); 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 86H2 – 0043 mang tên Trần Quang V.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001723, quyển số 0035, ký hiệu D47/2017 ngày 19/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đ).

5. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo C phải chịu 3.565.000 đồng (Ba triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.


39
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về