Bản án 108/2019/HSPT ngày 13/11/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 108/2019/HSPT NGÀY 13/11/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà phúc thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2019/HSPT ngày 29 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Cao Văn T do có kháng cáo của bị cáo Cao Văn T và kháng cáo của bị hại ông Đinh Xuân S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2019/HSST ngày 24 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Bị cáo bị kháng cáo: Cao Văn T, sinh ngày15 tháng 6 năm 1954 tại xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Sản xuất nông nghiệp; trình độ văn hoá: Lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đ (chết) và bà Đinh Thị H (chết); có vợ là Đinh Thị V và 06 người con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/5/2019 cho đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Văn Bá – Luật sư thuộc văn phòng Luật sư Công Bằng, đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình. Có mặt - Bị hại: Ông Đinh Xuân S Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Đinh Hữu Đậu, Luật sư thuộc văn phòng luật sư Yên Minh, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Đinh Đức A; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2. Chị Cao Thị Cẩm T, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của người làm chứng chị Cao Thị Cẩm T: Bà Đinh Thị N (mẹ đẻ của chị T). Vắng mặt.

3. Chị Cao Thị H, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

 4. Anh Cao Văn T; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

5. Anh Cao Ngọc T, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

6. Anh Đinh Văn T; địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

7. Anh Cao Ngọc M, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

8. Anh Cao Tân L, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác:

Người giám định:

Ông Phạm Ngọc T- Bác sỹ, công tác tại Trung tâm giám định Y khoa, Pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Bình. Có mặt

Ông Trần Quốc K, Bác sỹ, công tác tại Trung tâm giám định Y khoa, Pháp y – Sở y tế tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn trong quá trình tranh chấp quyền sử dụng đất, Cao Văn T cho rằng ông Đinh Xuân S dựng chuồng trâu trái phép trên phần đất được cấp thẻ đỏ của gia đình mình tại thôn T, xã H, huyện M, nên vào khoảng 14 giờ ngày 26/12/2018, hai bên xảy ra tranh cãi tại phần đất tranh chấp, sau đó Cao Văn T bỏ về nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Cao Văn T cầm theo 01 cây rựa để đi dắt trâu về chuồng, khi đi ra gần đoạn cầu treo thôn T, xã H, nhìn thấy ông Đinh Xuân S đang điều khiển xe mô tô đi về hướng UBND xã H, T đi đến cầu treo, nhặt một que gỗ bên đường rồi ngồi ở đầu cầu chờ, một lúc sau khi ông S điều khiển xe quay lại, Tđứng ra cầu chặn đường. Cao Văn T tay trái cầm rựa, tay phải cầm 01 que gỗ tròn vát hai đầu, hai tay dang ngang chặn đường ông S, sau khi cãi vã với ông S, T tay phải cầm que gỗ đánh 01 phát trúng vào phần đầu phía bên tai trái của ông S, làm ông S bị một vết thương rách da ở tai bên trái. Sau khi đánh ông S bị thương, Cao Văn T bỏ về nhà. Hậu quả ông S bị thương phải điều trị tại Trạm y tế xã H, bệnh viện đa khoa huyện M từ ngày 26/12/2018, sau đó chuyển đến Bệnh viện TW Huế điều trị đến ngày 04/01/2019 thì xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 22/TgT ngày 15/03/2019 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Quảng Bình, kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể của Ông Đinh Xuân S: Vết thương giữa vành tai trái đã khâu để lại sẹo kích thước 4x0,1cm. Chấn động não điều trị không ổn định, điện não có rải rác sóng kích thích bán cầu não trái. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 09%.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 62/TgT ngày 25/6/2019 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Quảng Bình, kết luận không xác định được cơ chế hình thành vết thương ở vành tai trái trên cơ thể bị hại Đinh Xuân S. Căn cứ vào tính chất sẹo vết thương vành tai trái thì không xác định được vết thương do vật gì gây nên.

Tại Kết luận giám định số 09/KLĐG-HĐĐG ngày 02 tháng 4 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M xác định xe mô tô biển kiểm soát 73C1-037.61 nhãn hiệu Yamaha Sirius của ông Đinh Xuân S bị hư hỏng tại thời điểm xảy ra vụ việc là 88.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đinh Xuân S yêu cầu bị cáo Cao Văn T bồi thường số tiền chi phí điều trị thương tích và tổn thất về tinh thần. Cụ thể như sau: Tiền băng bó vết thương tại trạm y tế xã H: 600.000đ; Tiền điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện M: 559.000đ; Tiền điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế: 2.288.000đ; Tiền mua thuốc để điều trị: 654.000đ; Tiền giám định lần 1: 1.839.000đ; Tiền ăn khi đi giám định: 200.000đ; Tiền nhà trọ khi đi giám định: 500.000đ; Tiền xe đi giám định: 340.000đ; Tiền xe đi giám định lần 2: 200.000đ; Tiền nhà trọ đi giám định lần 2: 250.000đ; Tiền ăn đi giám định lần 2: 200.000đ; Tiền xe đi từ xã H ra bệnh viện M: 350.000đ; Tiền xe đi từ huyện M đến bệnh viện Trung ương Huế: 2.000.000đ; Tiền xe đi từ Huế về xã H: 3.000.000đ; Tiền ăn của người bệnh trong thời gian điều trị tại bệnh viện: 1.800.000đ; Tiền ăn của người nuôi bệnh nhân trong thời gian điều trị tại bệnh viện: 2.700.000đ; Tiền nhà trọ của người nuôi bệnh nhân trong thời gian điều trị tại bệnh viện: 700.000đ; Tiền sửa xe: 380.000đ; Tiền thiệt hại về tài sản là chuồng trâu: 4.000.000đ.

Tổng cộng: 24.000.000đ ( Hai mươi bốn triệu đồng)

Ngoài ra người bị hại còn yêu cầu bị cáo bồi thường tổn hại về sức khỏe và tinh thần số tiền: 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng).

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tạm giữ và trả lại cho chủ sở hữu ông Đinh Xuân S 01 xe mô tô BKS 73C1-037.61, nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu sơn trắng – đen và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 004180.

Hiện đang tạm giữ chờ xử lý: 01 cây rựa dài 73cm màu đen, lưỡi bằng kim loại dài 28cm, một bên sắc bén dài 45cm, đường kính 03cm ; 01 que gỗ cứng, chắc, hình trụ tròn, màu nâu xám dài 69cm, đường kính 02 cm, có vát xiên ở hai đầu;

Cáo trạng số 18/CT-VKSNDMH ngày 04/8/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2019/HSST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện M đã tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội: “Cố ý gây thương tích” - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Cao Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; điều 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Cao Văn T phải bồi thường chi phí điều trị thương tích và tổn thất về tinh thần cho người bị hại Đinh Xuân S, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình số tiền là: 26.772.000đ (Hai mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi hai ngàn đồng).

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy:

 - 01 ( một) que gỗ hình tròn màu nâu xám dài 69 cm, đường kính 2 cm, hai đầu vát xiên.

Căn cứ điểm a khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Cao Văn T tài sản sau:

- 01 ( một ) cây rựa dài 73cm, phần lưỡi bằng kim loại màu đen dài 28cm. Phần cán làm bằng gỗ dài 45cm, đường kính 3cm ;

Số vật chứng trên đã đựơc chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

Án sơ thẩm còn tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 27/9/2019, Bị cáo Cao Văn T kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ tại địa phương và xem xét giảm mức bồi thường thiệt hại cho bị cáo. Bị cáo cho rằng có hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin được bồi thường trước 5.000.000 đồng cho bị hại, số còn lại sau khi tòa phúc thẩm xét xử bị cáo tiếp tục nộp để bồi thường.

Ngày 07/10/2019 bị hại ông Đinh Xuân S kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại theo quy định của pháp luật vì các lý do:

 - Chưa làm rõ và hung khí gây thương tích cho bị hại là que sắt xoắn hay que gỗ và chưa làm rõ số lần đánh vào đầu và tai bị hại.

- Chưa làm rõ cơ chế hình thành vết thương trên vành tai và gây chấn động não do vật gì gây nên, que gỗ được thu giữ tại nhà riêng của bị cáo chứ không thu giữ tại hiện trường.

- Chưa làm rõ được hành vi của Cao Ngọc T và Cao Văn T đối với bị hại là bỏ sót tội phạm.

- Tòa tuyên phạt Cao Văn T mức án 06 tháng tù là quá nhẹ, không đủ sức răn đe.

 - Đề nghị tăng mức Bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần.

Tại phiên tòa phúc thẩm Bị cáo Cao Văn T khai, thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố và xét xử của án sơ thẩm. Bị cáo cho rằng vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn nên chưa bồi thường được cho bị hại; bị cáo kháng cáo xin được xử phạt cải tạo không giam giữ và xin giảm mức bồi thường.

Bị cáo thừa nhận có dùng 01 cây gậy gỗ đánh vào đầu phía bên tai trái của ông S. Sau khi đánh ông S bị thương, bị cáo bỏ về nhà. Bị cáo thừa nhận cây gậy gỗ mà cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ tại nhà bị cáo là cây gậy mà bị cáo sử dụng đánh ông S, bị cáo khai không dùng cây sắt xoắn và cây rựa để đánh chém ông S như lời ông S trình bày.

Bị hại ông Nguyễn Xuân S trình bày: Ông yêu cầu làm rõ về công cụ thực hiện hành vi phạm tội, xem xét việc bỏ lọt tội phạm đối với Cao Ngọc T và Cao Văn T, đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo Cao Văn T và tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho ông với số tiền 25.000.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo Cao Văn T không tranh luận về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố và bản án sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội, đúng tính chất của vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 và có tính tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại là do hộ nghèo, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo tại địa phương.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt do hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo sử dụng hung khí gây tổn thương cho bị hại 9% nên cần nghiêm trị. Về bồi thường trách nhiệm dân sự: đề nghị chấp nhận yêu cầu của bị hại, đề nghị sửa án sơ thẩm, buộc bị cáo phải bồi thường 25.000.000 đồng tổn thất tinh thần cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm:

Về nội dung kháng cáo của bị cáo: Quyết định của Bản án sơ thẩm về tội danh có căn cứ, đúng pháp luật, tại phiên tòa, bị cáo trình bày hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật, gia đình thuộc hộ nghèo, do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 355, 357của Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: chấp nhận một phần kháng cáo của của bị cáo, giảm cho bị cáo 01 tháng tù.

Đối với kháng cáo của bị hại: Nội dung của vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm đã phù hợp với các tài liệu, chứng cứ và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, đã có cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa và bản án sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Về chi phí bồi thường trách nhiệm dân sự, đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại thêm từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận: Do mâu thuẫn từ việc tranh chấp đất đai, bị cáo đã sử dụng 01 cây gậy gỗ hình trụ tròn, cứng, chắc, có đường kính 2cm, dài 69cm có vát xiên 02 đầu đánh vào phần đầu phía bên tại trái của ông Đinh Xuân S, hậu quả làm ông S bị vết thương rách da ở bên tại trái, phải điều trị tại Trạm y tế xã H và Bệnh viện đa khoa huyện M và sau đó chuyển điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế. Theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại Đinh Xuân S là 09%. Hành vi sử dụng gậy gỗ là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng tai trái của ông S gây thương tích cho bị hại của bị cáo đã phạm vào tội” Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Nội dung vụ án mà Bản án sơ thẩm đã xác định hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Cao Văn T tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Cao Văn T mà Bản án sơ thẩm đã xác định là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Cao Văn T với lý do gia đình bị cáo khó khăn, là hộ cận nghèo và kháng cáo của bị hại Đinh Xuân S yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Cao Văn T:

Theo tính chất, mức độ vụ án, hung khí được bị cáo sử dụng gây án, mức độ thương tích mà bị cáo đã gây ra cho bị hại, phạm vi ảnh hưởng do hành vi phạm tội của bị cáo đối với nhân dân nơi bị cáo gây án; yêu cầu đấu tranh đối với loại tội phạm coi thường tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác như bị cáo đã thực hiện. Sau khi xem xét hình phạt mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy, Bản án sơ thẩm đã đánh giá, phân tích đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định hình phạt để xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù tội “Cố ý gây thương tích” là đúng pháp luật. Theo các tình tiết, nội dung vụ án thì hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội do bột phát. Tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo nêu trong đơn kháng cáo đã được Bản án sơ thẩm xem xét. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ nhưng không có thêm tình tiết mới, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn T về xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại đồng ý với mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên, do đó Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.

- Về kháng cáo của bị hại cho rằng chưa làm rõ hung khí nào gây thương tích cho bị hại:

Theo các tài liệu được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M thu thập trong quá trình điều tra vụ án cùng với Kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, lời khai nhận tội của bị cáo, đã có cơ sở khẳng định việc bị cáo Cao Văn T sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích 09% cho bị hại Đinh Xuân S là có cơ sở. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị hại ông S cho rằng hung khí là cây sắt xoắn nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời khai của mình là có căn cứ, các người làm chứng mà cơ quan điều tra triệu tập đều không chứng kiến việc bị cáo đánh bị hại. Bị cáo đã thừa nhận sử dụng gậy gỗ - là hung khí nguy hiểm - để đánh bị hại, như vậy, đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra đã hợp pháp. Bị hại không có khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra trong quá trình thu thập chứng cứ. Nghĩ nên không chấp nhận kháng cáo này của bị hại Đinh Xuân S là có cơ sở.

- Về nội dung kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường về tổn thất tinh thần cho bị hại:

 Bản án sơ thẩm chấp nhận chi phí điều trị thương tích và các chi phí khác với số tiền 16.341.000 đồng, chi phí này bị cáo và bị hại không có kháng cáo nên cần giữ nguyên, riêng bản án sơ thẩm buộc bồi thường tổn thất về tinh thần số tiền bằng 07 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định 1.490.000 đồng x 7 = 10.430.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy, theo hồ sơ vụ án cũng như thời gian điều trị, Kết luận giám định pháp y thương tích thì thương tích hiện tại của bị hại là 09%, hiện bị hại bị chấn động não điều trị không ổn định, điện não có rải rác sóng kích thích bán cầu não trái, cần phải có thời gian nhằm ổn định tinh thần cũng như sức khỏe, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy cần thiết phải tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần cho bị hại Đinh Xuân S với mức 15 tháng lương tối thiểu là phù hợp với quy định của pháp luật, do đó cần buộc bị cáo phải bồi thường: 22.350.000 đồng tiền tổn thất tinh thần cho bị cáo là phù hợp.

 Do đó cần sửa án sơ thẩm về bồi thường, buộc bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích và các chi phí khác với số tiền 16.341.000 đồng, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 22.350.000 đồng tổn thất tinh thần, tổng cộng là 39.691.000 đồng Về kháng cáo bỏ lọt tội phạm đối với Cao Văn T và Cao Ngọc T:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã xử lý tin báo của ông Đinh Xuân S, nhưng không chứng minh được tội phạm nên không có cơ sở để khởi tố vụ án, như vậy, không có việc Cơ quan điều tra bỏ sót không điều tra sự việc. Ông Đinh Xuân S không cung cấp được chứng cứ chứng minh bị Cao Văn T và Cao Ngọc T đánh và Cao Văn T, Cao Ngọc T không thừa nhận nên không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi cố ý gây thương tích là đúng pháp luật.

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều được thu thập theo trình tự do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, phù hợp với kết luận giám định cũng như thương tích của nạn nhân, việc thu thập lời khai của những người làm chứng, vật chứng vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, ngoài ra, quá trình tiến hành tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo về nội dung này. Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để hủy án sơ thẩm để điều tra, xác minh lại đối với bị cáo Cao Văn T.

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về sửa Bản án sơ thẩm về tăng mức bồi thường là có cơ sở.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

[7] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị hại ông Đinh Xuân S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Cao Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng do bị cáo thuộc diện hộ nghèo có xác nhận của địa phương nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 357; khoản 2 các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn T và chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại ông Đinh Xuân S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt và sửa án sơ thẩm tăng mức bồi thường về tổn thất tinh thần.

 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Cao Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự :

Buộc bị cáo Cao Văn T phải bồi thường chi phí điều trị thương tích và các chi phí khác và bồi thường tổn thất tin thần cho bị hại ông Đinh Xuân S số tiền 39.691.000 đồng (ba mươi chín triệu sáu trăm chín mươi mốt ngàn đồng), trong đó, bồi thường chi phí điều trị 16.341.000 đồng; bồi thường tổn thất tinh thần là 22.350.000 đồng.

Bị cáo Cao Văn T kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Cao Văn T.

Bị hại ông Đinh Xuân S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 13 tháng 11 năm 2019).


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 108/2019/HSPT ngày 13/11/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:108/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quảng Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 13/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về