Bản án 108/2017/HSST ngày 28/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 108/2017/HSST NGÀY 28/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Vào ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2016/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 09 tháng 6 năm 1996; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Đ; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Lớp 6; con ông: Lò Văn H, sinh năm 1968; con bà: Lò Thị L, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo có bà: Lò Thị Khánh Hà, trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Lò Văn L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 18 giờ ngày 01/7/2017, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản S Ngoài, xã Q, huyện T phát hiện bắt quả tang Lò Văn L đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của Lò Văn L 02 gói Hêrôin, tạm giữ 470.000đ (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng). Tổ công tác đã lập biên bản niêm phong vật chứng, dẫn giải Lò Văn L về Công an huyện Tuần Giáo xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lò Văn L khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 17 giờ ngày 01/7/2017, Lò Văn L đi từ nhà ra khu vực bản Đoàn K, xã Q (đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết). Khi xuống xe thì L lên cơn nghiện ma túy. L tiếp tục đi đến bản N, xã Q để tìm mua Hêrôin sử dụng. Khi đến khu vực bản N, L vào một ngôi nhà ven đường thì gặp một người đàn ông đang đứng ở gầm sàn. L hỏi người đó có Hêrôin thì bán cho L. Người đó đã bán cho L 02 gói Hêrôin với giá 400.000đ. Việc mua bán chỉ có hai người biết và không cân xác định trọng lượng. Sau khi mua được Hêrôin, Lương đi vào khu vực thao trường huấn luyện thuộc bản S, xã Q để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ.

Ngày 01/7/2017, Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong và xác định trọng lượng vật chứng. Số Hêrôin thu được của Lò Văn L được xác định trọng lượng là 0,47 gam. Cơ quan điều tra đã trích 0,06 gam làm mẫu giám định. Tại bản Kết luận giám định số: 631/GĐ-PC-54 ngày 28/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện biên đã kết luận: Mẫu vật gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn L là chất ma túy, loại Hêrôin.

Tại bản Cáo trạng số: 85/QĐ-VKS- HS ngày 11/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lò Văn L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 BLHS.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; khoản 1 Điều 249, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH, xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 194 BLHS.

Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS tuyên hủy 01 gói niêm phong Hêrôin. Trả cho bị cáo 470.000đ. Miễn án phí HSST theo qui định tại điều 99 BLTTHS và nghị quyết 326/2016/UBTVQH.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí về tội danh và điều khoản mà VKS đã truy tố đối với bị cáo cũng như hướng xử lý các vấn đề khác trong vụ án. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Bị cáo Lò Văn L bị bắt quả tang khi đang tàng trữ 02 gói Hêrôin có trọng lượng 0,47 gam. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận, số Hêrôin này bị cáo mua của một người không quen biết mục đích sử dụng vì bị cáo nghiện ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong và xác định trọng lượng vật chứng; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi mua Hêrôin về sử dụng của bị cáo Lò Văn L đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm được qui định tại khoản 1 Điều 194 Bộ Luật Hình sự năm 1999, nay được qui định tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015. So với khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999, khung hình phạt qui định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 nhẹ hơn nên cần áp dụng khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 để áp dụng có lợi cho bị cáo.

Bởi vậy, VKSND huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là chính xác.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi của dân tộc. Hành vi phạm tội của bị cáo là một trong các nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy, loại tệ nạn đang gây nhức nhối trong toàn xã hội bởi sự hủy hoại về kinh tế, sức khỏe, tính mạng con người của loại độc dược này nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh.

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân đối với bị cáo thấy: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Là người thanh niên tuổi còn trẻ, có sức khỏe nhưng bị cáo không chịu rèn luyện bản thân. Vì đua đòi, lười lao động bị cáo đã nghiện ma túy và đã phạm tội. Tuy không có tình tiết tăng nặng TNHS nhưng bị cáo là người nghiện ma túy. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người có thân xấu. Bởi vậy, cần phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như có thời gian cai nghiện.

Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 194 BLHS.

Đề nghị mức hình phạt của KSV, người bào chữa cho bị cáo và hướng xử lý các vấn đề khác của vụ án HĐXX sẽ xem xét cân nhắc và quyết định cho phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán Hêrôin cho bị cáo, bị cáo khai không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý.

Vật chứng vụ án là 01 gói niêm phong Hêrôin cần áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để hủy. Số tiền 470.000đ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả cho bị cáo.

Bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng Điều 99 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH miễn án phí HSST cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH của Quốc hội, xử phạt bị cáo Lò Văn L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2017.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS, tuyên tịch thu để hủy 01 gói niêm phong niêm phong Hêrôin. Trả lại cho bị cáo 470.000đ (bốn trăm bảy mươi nghìn đồng). Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

4. Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2017).


57
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về