Bản án 107/2020/DS-PT ngày 11/12/2020 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 107/2020/DS-PT NGÀY 11/12/2020 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Trong ngày 11 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 116/2020/TLPT-DS ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp hụi.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 108/2020/QĐ-PT ngày 16 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị N, sinh năm 1983 Địa chỉ: Ấp Tường 4, xã Hưng P, huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của chị N: Chị Trần Thúy D, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp Tường 4, xã Hưng P, huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Bà Đàm Kim C, sinh năm 1961 Địa chỉ: Ấp Tường 4, xã Hưng P, huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Đàm Kim C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị N trình bày: Chị có tham gia 01 phần (chưng) hụi 2.000.000 đồng loại hụi mùa mở ngày 10/6/2012 âm lịch, do bà Đàm Kim C làm chủ, dây hụi gồm 21 phần hụi, hụi mở 01 năm 03 kỳ vào tháng 3, tháng 6 và tháng 11, không cố định kỳ mở hụi là ngày nào, tùy theo lúa chín sớm hay trễ thì chủ hụi sẽ thông báo kỳ mở hụi, nhưng tháng mở hụi mỗi năm là cố định tháng 3, tháng 6 và tháng 11. Sau kỳ mở hụi thì khoảng 01 tháng sau chủ hụi sẽ gom hụi của các hụi viên để giao cho hụi viên hốt hụi. Chị đã hốt phần hụi của chị, nhưng do thời gian đã lâu nên chị không nhớ hốt ở kỳ hụi nào và bà C cũng đã giao đủ tiền hốt hụi cho chị. Trong quá trình tham gia hụi thì chị đóng hụi đầy đủ các kỳ hụi cho bà C.

Do dây hụi này mở ngày 10/6/2012 âm lịch nên năm 2012 mở 02 kỳ là ngày mở hụi 10/6/2012 âm lịch và tháng 9/2012 âm lịch. Sau đó tiếp tục năm 2013, 2014 mở 03 kỳ vào tháng 3, tháng 6 và tháng 11. Riêng năm 2015 thì chỉ mở 02 kỳ là tháng 3 và tháng 9, kỳ hụi tháng 6 ngưng không mở hụi do lúa thất nên chủ hụi và hụi viên thống nhất không mở kỳ hụi tháng 6. Các năm 2016, 2017, 2018, 2019 mỗi năm đều mở đầy đủ 03 kỳ hụi. Như vậy tính từ khi mở hụi đến hết năm 2019 thì dây hụi này đã mở tổng cộng 22 kỳ hụi, lẽ ra dây hụi này đã mãn vào kỳ mở hụi tháng 6/2019 âm lịch. Do chị không có xem giấy hụi nên khi bà C gom thêm 01 kỳ hụi vào tháng 11/2019 âm lịch thì chị đã đóng cho bà C 01 kỳ hụi số tiền 2.000.000 đồng, sau đó chị mới biết bà C gom dư của chị 01 kỳ hụi. Nay chị yêu cầu bà C trả lại cho chị số tiền 2.000.000 đồng. Ngoài ra chị không còn yêu cầu gì khác.

Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Đàm Kim C trình bày: Bà thống nhất theo lời trình bày của chị N về việc bà có làm chủ dây hụi mùa mở ngày 10/6/2012 âm lịch, gồm 21 phần hụi, chị N có tham gia một phần hụi. Hụi mở 01 năm 03 kỳ vào tháng 3, tháng 6 và tháng 11, không cố định kỳ mở hụi là ngày nào, tùy theo lúa chín sớm hay trễ thì chủ hụi sẽ thông báo kỳ mở hụi, nhưng tháng mở hụi mỗi năm là cố định tháng 3, tháng 6 và tháng 11. Sau kỳ mở hụi khoảng 01 tháng thì chủ hụi sẽ gom hụi của các hụi viên để giao cho hụi viên hốt hụi. Bà xác định năm 2012 âm lịch bà mở hai kỳ hụi vào tháng 6 và tháng 11. Ngoài ra, năm 2015 do lúa thất nên bà và các hụi viên có thống nhất ngưng 01 kỳ hụi, do đó năm 2015 chỉ mở 02 kỳ hụi vào tháng 4 và tháng 11. Các năm còn lại mỗi năm đều mở 03 kỳ hụi vào tháng 3, tháng 6 và tháng 11 cho tới lúc mãn hụi. Kỳ hụi cuối cùng mãn hụi là mở vào tháng 11/2019 âm lịch. Bà gom tiền của hụi viên và giao hụi cho hụi viên hốt vào tháng 12/2019 âm lịch. Do chị N đã hốt hụi nên kỳ hụi cuối cùng mở vào tháng 11/2019 âm lịch chị N phải đóng cho bà 01 kỳ hụi chết với số tiền là 2.000.000 đồng. Bà xác định gom đủ 21 kỳ hụi, không có gom dư nên bà không đồng ý trả số tiền 2.000.000 đồng theo yêu cầu của chị N.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu đã QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 479 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị N. Buộc bà Đàm Kim C có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Thị N số tiền hụi là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về áp dụng lãi suất trong giai đoạn thi hành án, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05 tháng 10 năm 2020, bị đơn bà Đàm Kim C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Bà Chăm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đàm Kim C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Đàm Kim C nộp trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Đàm Kim C yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử, nhận thấy rằng:

[3.1] Các đương sự thống nhất chị Huỳnh Thị N tham gia 01 phần hụi (01 chưng hụi) do bà C làm chủ hụi, dây hụi mùa 2.000.000 đồng mở ngày 10/6/2012 âm lịch, gồm 21 phần hụi. Hụi mở 01 năm ba kỳ vào tháng 3, tháng 6 và tháng 11. Năm 2012 (âm lịch) bà C mở hai kỳ hụi vào tháng 6 và tháng 11. Ngoài ra, năm 2015 do mất mùa nên bà C và các hụi viên thống nhất chỉ mở hai kỳ vào tháng 3 và tháng 11. Các năm còn lại là 2013, 2014, 2016, 2017, 2018, 2019 đều mở đầy đủ ba kỳ hụi. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3.2] Tính từ thời điểm mở hụi tháng 6 năm 2012 đến tháng 11 năm 2019 (âm lịch) thì dây hụi mùa của bà C làm chủ mở tổng cộng 22 kỳ hụi. Cụ thể, tính về mặt số học thì từ tháng 6 năm 2012 hụi mở và mỗi năm khui 3 kỳ, chỉ có năm 2015 do mất mùa các bên thống nhất chỉ mở 2 kỳ hụi thì đến tháng 6/2019 đã đủ 21 kỳ hụi. Bà C thừa nhận có gom hụi của chị N vào kỳ tháng 11 năm 2019 với số tiền 2.000.000 đồng, nhưng lại cho rằng chỉ mở 21 kỳ hụi và gom 21 kỳ, không phải 22 kỳ như chị N trình bày là không đúng, mà thực tế bà C đã gom hụi đến kỳ thứ 22 là dư 01 kỳ hụi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Đàm Kim C trả lại số tiền hụi 2.000.000 đồng cho chị Huỳnh Thị N là có căn cứ.

[4] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Đàm Kim C; có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

[5] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị N không phải chịu. Chị Huỳnh Thị N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009263 ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại. Bà Đàm Kim C phải chịu 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đàm Kim C phải chịu 300.000 đồng; bà Đàm Kim C đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009562 ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 148, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 468, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 27 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đàm Kim C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị N. Buộc bà Đàm Kim C có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Thị N số tiền hụi là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị N không phải chịu. Chị Huỳnh Thị N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009263 ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại. Bà Đàm Kim C phải chịu 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đàm Kim C phải chịu 300.000 đồng; bà Đàm Kim C đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009562 ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước L, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

136
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 107/2020/DS-PT ngày 11/12/2020 về tranh chấp hụi

Số hiệu:107/2020/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bạc Liêu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/12/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về