Bản án 107/2019/HS-PT ngày 16/05/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA  

BẢN ÁN 107/2019/HS-PT NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 83/2019/TLPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo Mai Cao T do có kháng cáo của bị cáo Mai Cao T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo có kháng cáo: Mai Cao T, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1999 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T và bà Lê Thị H; vợ, con: Chưa; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Văn C, sinh năm 1979. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn H II, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h ngày 08/8/2018 Mai Cao T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Dream, không biển kiểm soát, chở phía sau chị Lê Thị Hồng L ở xã H, huyện T, đi hướng QL217- Hà Lĩnh, khi đến Km1+50, Quốc lộ 217 thuộc địa phận xã N, huyện H, T đột ngột tăng ga vượt xe phía trước, do thiếu chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn nên phần tay lái bên phải xe môtô Dream va vào phần tay nắm bên trái xe môtô BKS 36P6-8445 đi phía trước cùng chiều do anh Hoàng Huy K ở xã L điều khiển. Va chạm khiến xe môtô BKS 36P6-84... bị đổ, cà trượt trên đường, còn xe môtô do T điều khiển loạng choạng tiếp tục va vào xe môtô BKS 29C1-201... của chị Nguyễn Thị M ở xã T đang dựng lề đường bên phải hướng Vĩnh Lộc-QL1A, Mai Cao T và chị Lê Thị Hồng L bị văng ra khỏi xe và ngã xuống khu đất trống gần đó, còn xe môtô cà trượt sang lề đường bên phải hướng QL1A-Vĩnh Lộc. Hậu quả của vụ tai nạn làm T và chị L bị thương, do thương tích nặng nên chị L chết tại Bệnh viện Đa khoa huyện H.

Khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra tai nạn là khu vực ngã ba nằm trên Quốc lộ 217 giáp với đường vào khu công nghiệp Hà Đông, vị trí xảy ra va chạm nằm trên chiều đường Vĩnh Lộc đi QL1A, làn đường rộng 5,6m chia làm hai chiều được ngăn cách bằng vạch sơn đứt quãng màu vàng, lề đất bên trái (hướng QL1A-Vĩnh Lộc) rộng 1m, lề đất phía bên phải (hướng QL1A-Vĩnh Lộc) rộng 0,9m.

Tại hiện trường lấy cột biển báo nằm trên lề đất phía bên phải (hướng QL1A-Vĩnh Lộc) làm mốc. Lấy mép đường bên trái (hướng QL1A-Vĩnh Lộc) làm mép chuẩn. Tiến hành khám nghiệm hiện trường thu được kết quả như sau: Vết cà số (1) không liên tục, điểm đầu vết cà cách mép chuẩn 80cm, điểm cuối vết cà nằm ngay dưới tay lái phía bên trái của xe môtô đo từ điểm đầu vết đến điểm mốc là 20,6cm. Vị trí số (2) là xe môtô BKS 36P6-84... xe đổ nghiêng bên trái, nằm yên, tắt máy, đầu xe quay hướng Vĩnh Lộc, đuôi xe quay hướng Quốc lộ 1A, khoảng cách từ trục tâm bánh trước đến trục tâm bánh sau lần lượt là 1,25m và 1,2m, từ tâm bánh trước vết số (2) đến trục tâm bánh sau vết số (3) là 13,1m. Vị trí số (3) là xe môtô 29C1-201... xe đổ nghiêng bên trái, nằm yên, tắt máy, vị trí xe nằm là ngoài lề đất phía bên trái hướng từ QL1A-Vĩnh Lộc, đầu xe quay hướng Vĩnh Lộc, đuôi xe quay hướng QL1A. Khoảng cách từ trục tâm bánh trước và trục tâm bánh sau đến mép chuẩn lần lượt là 1,53m và 1,56m, đo từ trục tâm bánh trước vết số (3) đến điểm đầu vết số (4) là 1,2m; Vị trí số (4) là vết cà không liên tục có kích thước 19,8x1cm, cách vết cà số (5) là 2m; Vết cà số (5) là vết cà không liên tục, điểm đầu vết cách mép chuẩn là 10cm, điểm kết thúc của vết nằm ngay tại trục tâm bánh trước của vết số (8), vết có kích thước 19,1x1cm, điểm đầu của vết cách tâm vết số (6) là 4,1m; Vết số (6) là mảnh vỡ có kích thước 70x20cm, khoảng cách từ điểm xa nhất của mảnh vỡ đến mép chuẩn là 50cm, tâm vết số (6) cách tâm vết số (7) là 1m; Vị trí số (7) là dép (dép nam) nằm trên lề đất phía bên trái hướng QL1A-Vĩnh Lộc, từ tâm vết số (7) đến trục tâm bánh sau vết số (8) là 11,5m; Vị trí số (8) là xe môtô không biển kiểm soát, xe đổ nghiêng bên phải nằm yên, tắt máy, đầu xe quay hướng Vĩnh Lộc, đuôi xe hướng QL1A. Khoảng cách từ trục tâm bánh trước và trục tâm bánh sau đến mép chuẩn lần lượt là 5,4m và 5,7m; Vị trí số (9) là vết máu, có kích thước 60 x20cm, đo từ tâm vết đến mép chuẩn là 3,1m và cách tâm vết số (7) là 6,2m.

Khám nghiệm xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát): Bánh trước hết hơi, ốp nhựa đèn xi nhan trước bên phải bị vỡ rơi, tại mắt trước cạnh dưới ốp nhựa bên trong đèn xi nhan có vết cà kích thước 1,5x0,4cm, chiều hướng vết từ trái qua phải, chếch từ dưới lên trên, hiện tại vết cao so với mặt đất 91cm-91,4cm; góc dưới bên trái lốc máy bị vỡ rơi, tại mặt trước dưới cần số có vết cà làm mòn kim loại, kích thước 15x6cm, chiều hướng vết từ phải qua trái, vết làm cong vênh cần đi số từ trước về sau, từ phải qua trái, hiện tại vết cao so với mặt đất 23cm-29cm; mặt trước ngoài giá để chân trước bên trái có vết cà làm mòn cao su, kích thước 9x2,5cm, chiều hướng vết từ phải qua trái, từ trước về sau, vết cao so với mặt đất 24cm-26,5cm, làm cong vênh giá để chân từ trước về sau; mặt trước ngoài đầu mút tay phanh và tay nắm bên phải, mặt ngoài bàn đạp phanh, mặt ngoài dưới giá để chân trước bên phải, mặt ngoài phần sau ốp tản nhiệt ống bô có vết cà làm mòn kim loại, cao su, chiều hướng vết từ trước về sau, chếch từ dưới lên trên, mặt vết bám dính bột đá.

Khám nghiệm xe môtô BKS 36P6-84...: Mặt sau ngoài đầu mút tay nắm bên trái có vết cà làm mòn kim loại, kích thước 2x1,5cm, chiều hướng vết từ phải qua trái, từ sau về trước, vết cao so với mặt đất 93cm-94cm; gương chiếu hậu bên trái bị vỡ rơi, mặt trước ngoài đầu mút giá để chân trước bên trái có vết cà làm mòn kim loại và cao su, vết có chiều từ trước về sau, mặt vết bám dính bụi đất.

Khám nghiệm xe môtô BKS 29C1-201...: Mặt ngoài bên trái lốc máy có vết cà làm mòn rách nhựa và kim loại không liên tục kích thước 31x24cm, chiều hướng vết từ trước về sau, bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng cao su), vết cao so với mặt đất 22cm-46cm; mặt trước ốp mặt nạ đầu xe, mặt ngoài ốp gương chiếu hậu bên trái, mặt ngoài ốp đèn xi nhan trước bên trái, mặt ngoài bên trái tay nâng có các vết cà làm mòn kim loại, chiều hướng vết từ dưới lên trên, chếch từ trái qua phải, mặt vết bám dính bụi đất.

Kết luận giám định số 1035/PC54 ngày 18/7/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh hóa kết luận: Va chạm giữa xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát) với xe môtô BKS 36P6-84..., điểm va chạm đầu tiên ốp nhựa đèn xi nhan trước bên phải xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát) với mặt sau ngoài đầu mút tay nắm bên trái xe môtô BKS 36P6-84...; tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện chuyển động cùng chiều, xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát) ở phía sau bên trái và vận tốc lớn hơn so với xe môtô BKS 36P6-84...; vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà số (1) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông thuộc phần đường bên trái hướng từ QL1A đi Vĩnh Lộc. Va chạm giữa xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát) với xe môtô BKS 29C1- 201..., điểm va chạm đầu tiên mặt trước dưới cần số xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát) với mặt ngoài bên trái lốc máy xe môtô BKS 29C1-201..., thời điểm xảy ra tai nạn hai phương tiện có hướng ngược chiều, xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát) đang trong tư thế ngã nghiêng phải trên mặt đường. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước vị trí xe môtô BKS 29C1-201... đổ nghiêng trái (số 3) thuộc phần đường bên trái hướng QL1A đi Vĩnh Lộc.

Không đủ cơ sở kết luận tại thời điểm xảy ra va chạm xe môtô BKS 36P6-84... có chuyển hướng hay không.

Không đủ cơ sở để kết luận vận tốc của xe môtô biển kiểm soát 36P6-84... và xe môtô Honda Dream (không biển kiểm soát) vào thời điểm xảy ra tai nạn.

Khám nghiệm tử thi: Ngày 08/08/2018 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Trung đã ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y tử thi xác định nguyên nhân chết của chị Lê Thị Hồng L. Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1689/GĐPY-PC54 ngày 14/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận nguyên nhân chết do vỡ xương hộp sọ, tụ máu màng mềm.

Đối với anh Hoàng Huy K và anh Hoàng Văn Đ, do chỉ bị xây xát nhẹ nên cả hai không yêu cầu giám định và không đề nghị gì khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, Điều 38, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh: Bị cáo Mai Cao T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Mai Cao T 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí, việc thực hiện nghĩa vụ thi hành và quyền kháng cáo.

Ngày 04/3/2019 bị cáo Mai Cao T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 13/5/2019 bị cáo bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Mai Cao T, sửa bản án sơ thẩm về phần biện pháp chấp hành hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn giao thông và bản kết luận giám định đủ cơ sở khẳng định: Ngày 08/8/2018, Mai Cao T không có giấy phép lái xe, điều khiển xe môtô Honda Dream, không có biển kiểm soát, phía sau chở chị Lê Thị Hồng L, khi đến Km1+50 Quốc lộ 217 thuộc địa phận xã N, huyện H, do vượt xe không đúng quy định đã đâm va vào xe môtô biển kiểm soát 36P6-84... phía trước cùng chiều do anh Hoàng Huy K điều khiển và xe môtô biển kiểm soát 29C1-201... của chị Nguyễn Thị M đang dựng bên đường. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1, 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả dẫn đến cái chết cho chị L. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quy tắc an toàn giao thông đường bộ, nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ, bị cáo điều khiển xe thiếu quan sát, vượt ẩu không đúng quy tắc giao thông dẫn đến tai nạn, hậu quả xảy ra là chị L chết. Bị cáo biết rõ xe môtô mà bị cáo điều khiển là loại xe thuộc trường hợp phải có giấy phép lái xe mới được tham gia giao thông nhưng bị cáo đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật về tham gia giao thông. Vì vậy cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm nhẹ hình phạt.

Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động với gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại theo thỏa thuận cho đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có ông nội là thương binh, nhân thân của bị cáo tiền án, tiền sự không, ý thức chấp hành pháp luật tại địa phương tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo tại địa phương, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo sửa án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Mai Cao T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2019/HS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung về biện pháp chấp hành hình phạt.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Mai Cao T 03 (Ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Mai Cao T cho Ủy ban nhân dân xã Phong, huyện H, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về