Bản án 107/2019/HNGĐ-ST ngày 11/06/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 107/2019/HNGĐ-ST NGÀY 11/06/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 191/2019/TLST-HNGĐ, ngày 07/3/2019 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04/5/2019 và Quyết Định hoãn phiên tòa số 75/2019/QĐST.HNGĐ ngày 22/5/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Võ Quốc Đ, sinh năm 1983, (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Võ Thị D, sinh năm 1993, (vắng mặt)

Địa chỉ: Cùng ấp A, xã B, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/10/2018 và tại phiên Tòa, nguyên đơn ông Võ Quốc Đ trình bày tóm tắt như sau:

Ông và bà Võ Thị D có tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân, được hai bên tổ chức lễ cưới hỏi năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 20/10/2012. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc cho đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, ông và bà D ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với bà Võ Thị D.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Võ Thị Thùy D, sinh ngày 12/5/2009, hiện đang sống với ông. Khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Võ Thị Thùy D, ông không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông Võ Quốc Đ xác định, tài sản chung ông và bà D không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông và bà D không có nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn bà Võ Thị D được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà D không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Bà D cũng không đến Tòa để tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải. Đối với ông Đ, ông có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải vụ án. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Võ Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt. Căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Ông Võ Quốc Đ và bà Võ Thị D cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đức Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/02/2012 (số 17/2012) nên quan hệ hôn nhân của ông Đ và bà D được pháp luật thừa nhận là hợp pháp từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Ông Đ cho rằng cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc là do bà D không quan tâm chăm sóc gia đình nên mới xin ly hôn. Bà D được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án thể hiện việc ông Đ yêu cầu xin ly hôn với ông tại Tòa án nhưng bà D không có ý kiến, không thể hiện ý chí đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên Tòa ông Đ xác định không còn tình cảm với bà D và cương quyết ly hôn. Điều đó, chứng tỏ quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận theo đơn yêu cầu ly hôn của ông Võ Quốc Đ đối với bà Võ Thị D.

[3] Về quyền nuôi con chung: Khi ly hôn ông Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Võ Thị Thùy Dương, sinh ngày 12/5/2009 và không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.

Về việc nuôi con bà D không có ý kiến phản hồi về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con con, xét thấy ông Đ hiện đang nuôi cháu Thùy D khỏe mạnh và phát triển bình thường, cháu D có nguyện vọng sống cùng với ông Đ nên Hội đồng xét xử giao cháu Thùy Dương cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.

[4] Về tài sản chung: Ông Đ xác định ông và bà D không có tài sản chung cũng như nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà D không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung giữa các bên. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung và nợ chung của ông Đ và bà D.

Trường hợp sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung cũng như quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Võ Quốc Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28 Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 và Điều 86 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quốc Đ đối với bà Võ Thị D về việc “Ly hôn” Về hôn nhân: Ông Võ Quốc Đ được ly hôn với bà Võ Thị D.

Về quyền nuôi con chung: Ông Võ Quốc Đ được quyền trực tiếp nuôi cháu Võ Thị Thùy Dương, sinh ngày 12/5/2009. Bà Võ Thị D không cấp dưỡng nuôi con.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Ông Võ Quốc Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004237, ngày 06/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án.

“Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 107/2019/HNGĐ-ST ngày 11/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:107/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về