Bản án 106/2020/HS-PT ngày 27/02/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 106/2020/HS-PT NGÀY 27/02/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 27 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 624/2019/TLPT-HS, ngày 27/12/2019 đối với bị cáo Đỗ Thị L do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 349/2019/HSST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo bị kháng nghị (không có kháng cáo):

Đỗ Thị L (Tên gọi khác: không có); giới tính: Nam; sinh năm: 1980, tại tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký thường trú: Thôn ON, xã ĐQ, huyện TH, tỉnh Thái Bình; chỗ ở trước khi bị bắt: Số 56, đường số 4, khu phố 5, phường TTh, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn M (đã chết) và bà Đỗ Thị N; Bị cáo đã ly hôn với chồng là Tạ Văn M và có 01 con sinh năm 1999; tiền án: không; tiền sự: Ngày 10/10/2018 bị Công an quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/7/2019 đến ngày 28/7/2019, sau đó được tại ngoại cho đến khi bị bắt tạm giam ngày 22/10/2019. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 25/7/2019, Công an quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, phát hiện Đỗ Thị L đang ghi đề cho Nguyễn Văn S với tổng số tiền là 720.000 đồng, sau khi trừ tiền giảm còn lại 576.000 đồng, tại địa chỉ 76/13 đường số 16, khu phố 5, phường L Trung, quận Z. Cơ quan công an đã lập Biên bản phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Qua kiểm tra điện thoại của Đỗ Thị L, Cơ quan điều tra xác định vào ngày 25/7/2019 thì L có nhận và ghi đề theo kết quả sổ xố tỉnh An Giang là 1.912.000 đồng, theo kết quả sổ xố tỉnh Tây Ninh là 4.483.000 đồng, tổng số tiền là 6.395.000 đồng.

Vào cùng ngày, Đỗ Thị L cùng với Ngô Anh M, Lê Văn N, Nguyễn Thị H đánh bài “Tiến lên” thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 643.000 đồng. Trong đó, tiền của L là 404.000 đồng, tiền của Ngô Anh M là 190.000 đồng, tiền của Lê Văn N là 9.000 đồng, tiền của Nguyễn Thị H là 40.000 đồng. Cơ quan công an đã thu giữ vật chứng là tổng số tiền nêu trên.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đỗ Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã truy tố.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 349/2019/HSST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị L phạm tội “Đánh bạc”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 22/10/2019, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ trước từ ngày 25/7/2019 đến ngày 28/7/2019.

Ngày 05/12/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSTĐ, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Đỗ Thị L thừa nhận toàn bộ hành vi như Bản án sơ thẩm đã xác định và đề nghị giữ nguyên mức hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét:

- Về hình thức của Bản án: Tại phần đầu của Bản án xác định tư cách tham gia tố tụng của Đỗ Thị L là “Người bị buộc tội” là chưa đúng hình thức theo quy định tại Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Về việc áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Cấp sơ thẩm nhận định và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 nhưng lại tiếp tục áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là chưa chính xác.

Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu” và tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo Đỗ Thị L, xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 22/11/2019, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, ngày 05/12/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 02/QĐ-VKSTĐ đối với bản án sơ thẩm. Quyết định kháng nghị được ban hành trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 25/7/2019, Đỗ Thị L đã có hành vi ghi số đề cho các người chơi với tổng số tiền ghi đề là 6.395.000 đồng. Cùng ngày, Đỗ Thị L đã có hành vi chơi đánh bài thắng thua bằng tiền với số tiền là 404.000 đồng, tuy nhiên trước đó vào ngày 10/10/2018, bị cáo bị Công an quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chưa được xóa tiền sự nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử Đỗ Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, với tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Do bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng cấp sơ thẩm đồng thời áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là chưa phù hợp, không có cơ sở. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và sửa một phần bản án về việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Riêng về mức hình phạt 07 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo, xét thấy là đã tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, do đó không chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiếm sát về tăng hình phạt cho bị cáo, xét cần giữ nguyên bản án về mức hình phạt đã tuyên.

Đối với kháng nghị đề nghị xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng của Đỗ Thị L, mặc dù tại phần đầu Bản án, cấp sơ thẩm ghi tư cách là “Người bị buộc tội” nhưng trong toàn bộ nội dung bản án thì tư cách của Đỗ Thị L vẫn là “Bị cáo” là đã phù hợp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm và tuân thủ đúng theo quy định tại Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19/9/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để đảm bảo tính thống nhất chung về hình thức của Bản án.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị số 59/QĐ-VKS-P7 ngày 21/11/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và sửa một phần Bản án sơ thẩm số 349/2019/HSST ngày 22/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng pháp luật.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 07 (bảy) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/10/2019, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ trước từ ngày 25/7/2019 đến ngày 28/7/2019.

3. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 22 và 23 Nghị quyết 326 quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án, Bị cáo Đỗ Thị L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về