Bản án 106/2019/HSST ngày 12/04/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 106/2019/HSST NGÀY 12/04/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 123/2019/HSST, ngày 15 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số120/2019/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc D - Sinh 1986.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Phố V, phường B, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc B (Đã chết) và bà Vũ Thị H (Đã chết); Có vợ là Lại Thị H; Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/11/2012 bị Công an phường T, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

2. Nguyễn Việt H - Sinh 1990.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Thôn Th, xã S, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Tr (Đã chết) và bà Lê Thị S, sinh năm 1956; Có vợ là Trịnh Thiên L; Có 01 con, sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/01/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cướp tài sản” (Phạm tội lúc 14 tuổi 10 tháng). Chấp hành xong án phí ngày 05/5/2006.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

3. Lê Văn Tr - Sinh 1987.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã X, huyện Th, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn S, sinh năm 1957 và bà Lê Thị L (Đã chết); Có vợ là Hà Thị Nh; Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

4. Văn Đình Ng - Sinh 1986.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Khu phố H, phường Tr, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Đình Tr, sinh năm1958 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1962; Có vợ là Nguyễn Thị T; Có 03 con,lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

5. Nguyễn Mạnh Th - Sinh 1988.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Phố D, phường Tr, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1954; Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

6. Trịnh Xuân C - Sinh 1995.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Thôn A, xã Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Xuân Đ, sinh năm 1974 và bà Đào Thị A, sinh năm 1975; Có vợ là Nguyễn Thị T; Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.

 Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thếbiện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

7. Lê Văn Đ - Sinh 1990.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã P, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do.trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:

Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T (Đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1958; Có vợ là Lê Thị Ng; Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm2019; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

8. Nguyễn Xuân Th - Sinh 2000.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Thôn B, xã M, huyện Ntỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (Không xác định) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

9. Nguyễn Tiến T - Sinh 1987.

Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: Thôn Tr, xã Q, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H (Đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1963; Có vợ là Lê Ngọc Tr; Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2019 đến ngày 08/01/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h20 phút ngày 05/01/2019, Công an phường Đ, thành phố H,tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an thành phố H bắt quả tang tại quán cà phê Corner ở phường Đ, thành phố H các đối tượng Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ đang tham gia đánh bạc dưới hình thức ba cây được thua bằng tiền. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tang vật gồm: 36 cây bài tú lơ khơ từ A đến 9; Thu trên bàn và khu vực xung quan nơi đánh bạc 24.500.000đ; Thu trên người các đối tượng số tiền 14.060.000đ.

Tại cơ quan điều tra Công an thành phố H, các đối tượng Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ khai nhận: Các đối tượng đều là thành viên trong hội bán sim thẻ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Ngày 05/01/2019, các thành viên trong hội tổ chức gặp mặt và giao lưu bóng đá. Địa điểm gặp mặt tại quán cà phê Corner phường Đ, thành phố H. Trong khi chờ đến giờ đi đá bóng thì mọi người rủ nhau đánh ba cây cầm chương ăn tiền. Sau khi tất cả thống nhất thì Nguyễn Ngọc D có nói với Lê Văn Đ sang quán tạp hóa bên cạnh mua một bộ bài tú lơ khơ về để chơi. Khi Đ mua bài về, mọi người ngồi quanh bàn uống nước tại quán cà phê và lọc bộ bài lấy các quân bà từ A đến 9 để chơi với hình thức: Chia cho mỗi người một cây, ai cao nhất người đó sẽ cầm chương. Sau đó chia cho mỗi người 03 cây bài, người chơi sẽ đặt tiền với số tiền thấp nhất được quy định là 50.000đ (tiền đặt cửa). Người chơi có thể đặt đặt tiền cao hơn nhưng phải được người cầm chương chấp nhận. Đặt tiền xong, người chơi sẽ cộng tổng số điểm trên 3 cây bài để so với người cầm chương. Nếu người chơi thấp điểm hơn người cầm chương thì người chơi thua và sẽ mất số tiền đặt cửa. Nếu người chơi cao điểm hơn thì người chơi thắng và sẽ được người cầm chương trả tiền bằng số tiền người chơi đã đặt cửa. Nếu bằng điểm nhau sẽ tính theo chất bài lớn dần là bích, tép, rô, cơ. Nếu 3 cây giống nhau gọi là sáp và thắng sẽ được nhân gấp 3 số tiền đặt cửa. Nếu 3 cây cùng chất liền nhau gọi là đồng hoa và thắng sẽ được nhân gấp 4 lần tiền đã đặt cửa.

Các đối tượng bắt đầu chơi từ khoảng 12h15 phút đến 13h20 phút cùng ngày thì bị Công an bắt quả tang và lập biên bản, thu giữ tang vật cùng những đồ vật liên quan. Có tất cả 8 cửa chơi gồm Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th và Lê Văn Đ . Nguyễn Tiến Th không trực tiếp chơi mà ngồi ngoài đánh ké cửa của D.

Khi đánh bạc, không có ai đứng ra tổ chức mà mọi người cùng rủ nhau và cũng không phải đóng bất cứ khoản tiền nào.

Số tiền các đối tượng khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Nguyễn Ngọc D khai trước khi đánh có vay số tiền 2.000.000đ của Nguyễn

Mạnh Th, sau đó dùng tài khoản của mình chuyển trả vào tài khoản. D dùng số tiền này đánh bạc, sau đó đánh thắng nên cho Tr vay 5.000.000đ, Đ vay 3.000.000đ và Th vay 4.000.000đ. Khi bị bắt D còn 4.560.000đ. Đối với số tiền D cho các đối tượng vay thì Đ và Th đã dùng tiền trong tài khoản của mình chuyển trả sang tài khoản của D còn Tr chưa trả.

Nguyễn Việt H khai: Trước khi đánh bạc H có 600.000đ, H dùng số tiền này đánh bạc, khi bị bắt H đang thắng và bị thu giữ số tiền 5.000.000đ. Lê Văn Tr khai: Khi tham gia đánh bạc Tr có 700.000đ, qua trình chơi bị thua nên đã vay của D 5.000.000đ để đánh tiếp. Khi bị bắt không biết thắng hay thua. Số tiền vay của D, Tr chưa trả. Văn Đình Ng khai có 1.600.000đ dùng để đánh bạc, khi bị bắt không biết thắng hay thua.

Nguyễn Mạnh Th khai: Trước khi đánh bạc có cho D vay 2.000.000đ còn 1.500.000đ dùng để đánh bạc và đã thua hết. Lê Văn Đ khai: Có 1.700.000đ dùng để đánh bạc, quá trình chơi bị thua đã vay của D 3.000.000đ để chơi tiếp, khi bị bắt đã thua hết. Số tiền vay của D, Đđã chuyển khoản trả cho D.

Nguyễn Xuân Th khai: Không nhớ mang theo bao nhiêu tiền, quá trình chơi có vay của D 4.000.000đ, Th đã dùng tiền trong tài khoản trả cho D, lúc bị bắt Th đang có 1.100.000đ.

Nguyễn Tiến Th khai: Thành mang đi 500.000đ, khi đánh bạc Th đã thắng được 600.000đ, khi bị bắt đã bị thu giữ 1.100.000đ.

Trịnh Xuân C khai: C có mang đi 5.000.000đ nhưng chỉ lấy ra 1.600.000đ để chơi. Số tiền còn lại C cất trong ví để đóng tiền liên hoan. C xác định chỉ chơi trong số tiền 1.600.000đ, nếu thua hết thì không chơi nữa. Khi bị bắt C không biết còn bao nhiêu tiền.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã chứng minh số tiền các đối tượng dùng vao việc đánh bạc đã thu giữ là 35.160.000đ và số tiền 7.000.000đ các đối tượng Th và Đ chuyển trả vào tài khoản cho D. Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 42.160.000đ.

Đối với số tiền 3.400.000đ thu giữ của C, cơ quan điều tra xác định C không sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc.

Đối với chủ quán cà phê Corner , khi các đối tượng đánh bạc ở đây chủ quan không có mặt và không biết. Lúc này người trông quán là anh Nguyễn Hoài L là người giúp việc. Trong lúc các đối tượng đánh bạc, anh L không biết các đối tượng chơi dưới hình thức gì và anh cũng không thu lợi gì từ việc các đối tượng đánh bạc, các đối tượng cũng không phải trả khoản tiền nào cho quán. Do đó không có căn cứ xử lý chủ quán và anh L.

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại cáo trạng số 105/CT-VKS, ngày 15/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Ngọc D cùng đồng bọn về tội “Đánh bạc” khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc

Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt:

- Nguyễn Ngọc D từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Nguyễn Việt H từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gianthử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Lê Văn Tr từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Văn Đình Ng từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Nguyễn Mạnh Th từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Trịnh Xuân C từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gianthử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Lê Văn Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Nguyễn Xuân Th từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

- Nguyễn Tiến Th từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo có đơn đề nghị miễn hình phạt bổ sung vì hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 36 cây bài tú lơ khơ. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 35.160.000đ là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc. Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.000.000đ của bị cáo D là tiền các bị cáo vay đánh bạc và đã chuyển khoản để trả. Trả lại cho bị cáo C số tiền 3.400.000đlà tiền C không sử dụng vào việc đánh bạc.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khôngcó ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ thừa nhận: Vào khoảng 13h20 phút ngày 05/01/2019, các đối tượng đã đánh bạc dưới hình thức 3 cây cầm chương ăn tiền tại cà phê Corner ở phường Đ, thành phố H. Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 35.160.000đ thu giữ tại chiếu bạc và 7.000.000đ các đối tượng Th và Đ chuyển trả vào tài khoản cho D. Tổng cộng là42.160.000đ.

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện Kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ phạm tội“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đánh bạc trái phép với hình thức đánh 03 cây có tính chất được thua bằng tiền là hành vi bị pháp luật cấm. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và nếp sống văn minh xã hội, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác do đó cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, không có người khởi sướng mà các bị cáo cùng rủ nhau chơi, thống nhất hình thức chơi, quy định mức tiền và tích cực thực hiện. Do đó các bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

+ Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng chung tình tiết giảm nhẹquy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Việt H được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Đ có bố đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến và Huân chương hữu nghị nước bạn Lào, bị cáo là người trực tiếp thờ cúng bác ruột là liệtsỹ; Bị cáo Tr có bố đẻ là thương binh hạng 2/4, mẹ đẻ là thanh niên xung phong;

Bị cáo H có bố đẻ được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ. Bị cáo Th có mẹ bị tai nạn lao động mất 61% sức khỏe. Các bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình và có xác nhận của chính quyền địa phương đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương. Các bị cáo được hưởng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với từng bị cáo - Hội đồngxét xử xét thấy: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tiền án tiền sự,có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.

 [6] Hình phạt bổ sung: Động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo chỉ là vui chơi giải trí, không phải chuyên nghiệp. Các bị cáo có đơn đề nghị miễn hình phạt bổ sung vì hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền.

[7] Về xử lý vật chứng: Số tiền 35.160.000đ thu tại chiếu bạc là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc do đó cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước. Số tiền3.400.000đ là của bị cáo C, không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền bị cáo D cho Đ vay 3.000.000đ, Th vay 4.000.000đ đã chuyển khoản cho D là tiền dùng để đánh bạc nên truy thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 36 quân bài là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm i, s (Điểm s đối với Nguyễn Việt H)khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt:

- Nguyễn Ngọc D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Việt H (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Lê Văn Tr (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thửthách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Văn Đình Ng (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Mạnh Th (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gianthử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Trịnh Xuân C (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Xuân Th (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Nguyễn Tiến Th (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Lê Văn Đ (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; Thời gian thửthách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc D cho UBND B, thành phố H , tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Việt H cho UBND xã S, huyện H, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lê Văn Tr cho UBND xã X, huyện Th, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Văn Đình Ng cho UBND phường Tr, thành phố S, tỉnh ThanhHoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Mạnh Th cho UBND phường T, thành phố S, tỉnhThanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Trịnh Xuân Cg cho UBND xã Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lê Văn Đ cho UBND xã Ph, huyện H, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân Th cho UBND xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hoágiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến Th cho UBND xã Q, huyện H, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiệntheo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treophải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 36 cây bài tú lơ khơ đã qua sử dụng (Từ A đến 9). Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 35.160.000đ là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc. Truy thu số tiền 7.000.000đ của bị cáo D. Trả lại cho bị cáo C 3.400.000đ.

Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 119/THA ngày 21/3/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Thanh Hoá và Công an thành phố H, tỉnh Thanh Hoá.

Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 21; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 .

Buộc các bị cáo: Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Việt H; Lê Văn Tr, Văn Đình Ng, Nguyễn Mạnh Th, Trịnh Xuân C, Nguyễn Xuân Th, Nguyễn Tiến Th và Lê Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2019/HSST ngày 12/04/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:106/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về