Bản án 106/2019/DS-ST ngày 23/08/2019 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 106/2019/DS-ST NGÀY 23/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 23 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2019/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2019/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Mỹ D, sinh năm 1966 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp NB, xã K, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn L và bà Lý Thị Kim A (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp KA, xã K, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 17-6-2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Lâm Thị Mỹ D trình bày:

Ngày 01-3-2014 ông L và bà Kim A làm Tổ trưởng đứng ra tổ chức hùn vốn sản xuất qua hình thức góp hụi loại 5.000.000 đồng, mỗi năm khui 02 lần (ngày 15-01 và ngày 15-9), gồm có 15 thành viên. Bà D có tham gia 01 chưng. Ngày 15-9-2018 bà D hốt được 49.500.000 đồng. Bà D có yêu cầu nhiều lần nhưng đến nay ông L và bà A chưa giao tiền hụi.

Bà D yêu cầu cầu ông L và bà A thanh toán tiền hụi đã hốt là 49.500.000 đồng, bà D đồng ý đối trừ 05 lần hụi chết với số tiền 25.000.000 đồng, buộc ông L và bà A trả 24.500.000 đồng.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Lý Thị Kim A đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn không có văn bản thể hiện ý kiến và cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Lý Thị Kim A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 207, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hụi theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Mỹ D kiện đòi bị đơn ông Huỳnh Văn L và bà Lý Thị Kim A thanh toán tiền hụi là 24.500.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của anh Huỳnh Văn Nh là con ruột ở cùng nhà với bị đơn xác định nguyên đơn có hốt hụi 49.500.000 đồng do bị đơn làm chủ, do bể hụi nên bị đơn chưa giao tiền cho nguyên đơn. Nếu bị đơn giao hụi thì nguyên đơn còn phải đóng 06 lần hụi chết cho bị đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn xác định còn đóng cho bị đơn 05 lần hụi chết là 25.000.000 đồng, đối trừ buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 24.500.000 đồng. Quá trình giải quyết, bị đơn cũng không có văn bản ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự và căn cứ lời trình bày của anh Nh, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

[4] Án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn phải chịu 1.225.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 143, 147, 207, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị Mỹ D. Buộc ông Huỳnh Văn L và bà Lý Thị Kim A thanh toán tiền hốt hụi cho nguyên đơn là 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu 1.225.000 đồng. Nguyên đơn không phải nộp án phí, ngày 21-6-2019 nguyên đơn đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 1.238.000 đồng theo biên lai thu số 0003307 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được hoàn lại toàn bộ cho nguyên đơn.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Án xử sơ thẩm nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2019/DS-ST ngày 23/08/2019 về tranh chấp hụi

Số hiệu:106/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về