Bản án 106/2018/HS-ST ngày 07/11/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 106/2018/HS-ST NGÀY 07/11/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1964 tại thành phố Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố T1, thị trấn M, huyện T2, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn R, sinh năm 1925 (đã chết) và bà Bùi Thị Ơ, sinh năm 1926 (đã chết); Chưa có vợ và chưa có con; Tiền án: - Bản án số 28/ST-HS ngày 11/3/2013 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và Bản án số 01/HSST ngày 05/01/2017 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Tiền sự: Không; Nhân thân: Đối tượng nghiện ma túy. - Bản án số 44/ST-HS ngày 26/6/1985 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. - Bản án số 155/ST-HS ngày 28/5/1988 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân và tội Trộm cắp tài sản của công dân. - Bản án số 453/ST-HS ngày 06/12/1996 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 năm tù về tội Cướp tài sản xã hội chủ nghĩa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/5/2018. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Phạm Văn D, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện T2, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

Anh Cù Thanh X, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn G, xã L, huyện T2, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

Anh Đinh Văn L, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện T2, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn Z, xã L2, huyện T2, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 10 phút ngày 18/12/2017, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Thủy Nguyên kết hợp với Công an thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố T1, thị trấn M, huyện T2, thành phố Hải Phòng phát hiện và bắt quả tang Lê Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng Phạm Văn D, Đinh Văn L và Cù Thanh X. Thu tại lòng bàn tay phải của D 02 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động, gắn sim số 01204.102.933. Thu giữ tại túi áo khoác bên trái T đang mặc số tiền 550.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động, gắn sim số 01633.293.988. Thu tại kẽ bờ tường bao cách vị trí T đứng khoảng 0,5m có 01 túi nylon (kích thước 08cm x 06cm), bên trong có 09 gói giấy nhỏ (gồm 08 gói nhỏ bằng giấy vở học sinh, 01 gói nhỏ bằng giấy bạc màu vàng) chứa chất bột màu trắng. Tổ công tác đã đưa T, D, L, X cùng vật chứng về trụ sở Công an thị trấn Minh Đức lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn T, Cơ quan công an thu giữ: Tại tủ trong phòng ngủ 03 dao lam; 01 bật lửa gas; 01 mảnh giấy vở học sinh (kích thước 18cm x 14cm).

Tại bản bản Kết luận giám định số 1166/KLGĐ ngày 20/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng Công an thu của Phạm Văn D là ma túy, khối lượng 0,0396 gam, là loại Heroine. Chất bột màu trắng Công an thu tại kẽ bờ tường bao cách vị trí T đứng khoảng 0,5m là ma túy, khối lượng 0,3074 gam, là loại Heroine.

Tiến hành kiểm tra đặc điểm số tiền 550.000 đồng công an thu giữ của T có 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 05 tờ có mệnh giá 20.000 đồng, 05 tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng. Trong đó, có 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng được khoanh tròn hai số seri cuối là 27, tờ mệnh giá 50.000 đồng được khoanh tròn hai số seri cuối là 02.

Tiến hành kiểm tra điện thoại của Lê Văn T có số sim 01633.293.988 và điện thoại của Phạm Văn D có số sim số 01204.102.933, công an thu giữ có nội dung thể hiện: Ngày 18/12/2017 có tin nhắn từ số 01204.102.933 (số của D) tin nhắn tin cho số 01633.293.988 (của T) liên quan đến việc giao dịch mua bán ma túy.

Quá trình điều tra, do T bị bệnh nặng, không đủ sức khỏe để giam giữ nên Cơ quan điều tra giao T cho gia đình quản lý, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Nhưng Lê Văn T bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã ra Quyết định truy nã đối với T. Đến ngày 07/5/2018, Lê Văn T bị bắt theo lệnh truy nã của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên.

Tại Cơ quan điều tra Lê Văn T không nhận tội và khai: T không bán ma túy cho ai và không bán ma túy cho D, L, X và Đ. T không biết 01 túi nylon bên trong có 09 gói giấy chứa chất bột màu trắng Công an thu tại kẽ bờ tường cách vị trí T đứng 0,5m là của ai. Về nguồn gốc số tiền 550.000 đồng Công an thu giữ của T là tài sản của T, do bán rắn mà có. Về nguồn gốc những vật chứng công an thu giữ tại nhà T là của T, không dùng để bán ma túy.

Quá trình điều tra mở rộng án, những người nghiện mua ma túy của T để sử dụng gồm Phạm Văn D, Đinh Văn L, Cù Thanh X và Đỗ Văn Đ khai: D, L, X và Đ đã nhiều lần mua ma túy của T để sử dụng. Loại ma túy mà các đối tượng mua của T để sử dụng là Heroine. Giá mua ma túy là 100.000 đồng/gói. D là người trực tiếp liên lạc với T qua điện thoại để mua ma túy. Mỗi lần mua ma túy, D dùng các sim điện thoại số 0941.323.645 và 01204.102.933 để gọi đến số 01633.293.988 (của T) để thông báo số lượng và hẹn thời gian đến nhà T giao dịch mua bán ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng Phạm Văn D, Cù Thanh X, Đinh Văn L, Đỗ Văn Đ khai nhận phù hợp với nhau về việc D, L và X gặp và rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng chung vào ngày 18/12/2017; D là người trực tiếp liên lạc với T để mua ma túy. Còn L, X là người đi cùng D đến gặp T mua ma túy và vào ngày 16/12/2017, D và Đ rủ nhau góp mỗi người 100.000 đồng để đi mua ma túy sử dụng chung; D là người cầm tiền và trực tiếp liên lạc với T để mua 02 gói Heroine tại nhà T như nội dung nêu trên.

Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người mua ma túy phù hợp với biên bắt người có hành vi phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của các đồng chí Công an, lời khai của người làm chứng, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cụ thể các đối tượng này đã giao dịch mua bán ma túy với T như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2017, D và Đ rủ nhau góp mỗi người 100.000 đồng để đi mua ma túy sử dụng chung. D là người cầm tiền và dùng số điện thoại 0941.323.645 để gọi vào số 01633.293.988 (của T) vào lúc 10 giờ 01 phút để hỏi mua 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng (nội dung cuộc gọi 13 giây). T đồng ý và hẹn giao dịch mua bán ma túy tại nhà T. Sau đó D và Đ đến khu vực ngõ nhà T, D là người đưa 200.000 đồng và nhận của T 02 gói Heroine, Đ đứng ngay bên cạnh D chứng kiến việc T và D trao đổi mua bán ma túy. Số ma túy này, D và Đ đã sử dụng hết.

- Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 18/12/2017, D, L và X gặp và rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng chung. D góp 100.000 đồng còn L và X mỗi người góp 50.000 đồng. D là người cầm tiền và dùng điện thoại có số sim 01204102933 gọi đến số điện thoại 01633293988 của T vào lúc 10 giờ 34 phút hỏi mua 02 gói ma túy giá 200.000 đồng (nội dung cuộc gọi 11 giây). T đồng ý và hẹn giao dịch mua bán ma túy tại khu vực ngõ nhà T. Sau đó, D nhắn tin lại cho T báo lấy số lượng 02 gói, đồng thời thông báo lại cho L và X biết. Sau đó, cả ba đi xe ôm của người không quen biết đến nhà T. Gần đến nơi, D lấy điện thoại số sim 01204102933 gọi đến số điện thoại 01633293988 của T vào lúc 11 giờ 03 phút thông báo cho T là D đã đến nơi hẹn mua bán ma túy (nội dung cuộc gọi 07 giây). Khi cả ba đến điểm hẹn, D, L, X đều thấy T đang đứng chờ ở khu vực đầu ngõ nhà T. D đưa cho T 200.000 đồng, T nhận tiền cất vào túi áo và lấy trong người ra 01 túi nylon bên trong có nhiều gói nhỏ. T đưa cho D 02 gói Heroin. D vừa nhận ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Thấy vậy, T liền cầm túi nylon chứa ma túy, nhét vào khe bờ tường cạnh vị trí T đứng. Khi D và T trao đổi, giao dịch mua bán ma túy thì L và X đứng ngay bên cạnh chứng kiến.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định; 02 điện thoại di động, 03 dao lam, 01 bật lửa gas, 01 mảnh giấy vở học sinh (kích thước 18cm x 14cm) và số tiền 550.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên.

Cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 28/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo các điểm b, p khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với hành vi của bị cáo.

Tại phiên toà:

Bị cáo Lê Văn T không khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và khai không bán ma túy cho ai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 10 năm tù đến 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ thời điểm bắt thi hành án. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

 [1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, không có yêu cầu mời người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:

 [2]. Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Bị cáo Lê Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là hêrôin có tổng trọng lượng 0,0396 gam + 0,3074 gam = 0.347 gam với mục đích vừa sử dụng cho bản thân vừa để bán cho người khác để kiếm lợi. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Về tình tiết tăng nặng định khung: Bị cáo phạm tội thuộc điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999:

 “1. Người nào ....mua bán trái phép chất ma tuý...thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội nhiều lần;

p) Tái phạm nguy hiểm”

Cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 28/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên là đúng pháp luật.

- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

 [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã nhiều lần bị Tòa án kết án thể hiện bị cáo có nhân thân xấu. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về cất giữ các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải áp dụng hình phạt từ trên mức khởi điểm của khung hình phạt, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung, xét bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản riêng và thu nhập, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Những vấn đề khác trong vụ án:

 [4]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong chứa số ma túy còn lại sau giám định, 03 dao lam, 01 bật lửa gas, 01 mảnh giấy vở học sinh. Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của Phạm Văn D và 01 điện thoại di động của bị cáo sử để thực hiện tội phạm cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. 200.000 đồng bị cáo có được do bán ma túy cho D, X và L vào ngày 18/12/2017 mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo có được do bán ma túy cho D và Đ vào ngày 16/12/2017 là tiền thu lợi bất chính do bán trái phép chất ma túy mà có cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 550.000 đồng đã thu giữ của bị cáo, cần tạm giữ để thực hiện nghĩa vụ của bị cáo.

 [5]. Trong vụ án này: Đối tượng đã bán ma túy cho T, hiện chưa xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với Phạm Văn D, Đinh Văn L, Cù Thanh X có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy là Heroine để sử dụng cho bản thân và Đỗ Văn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả điều tra chứng minh khối lượng ma túy Công an thu giữ của D, L, X không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự và không thu giữ được ma túy của Đ. Về nhân thân D, L, X và Đ chưa có tiền án hoặc bị xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên đã xử lý hành chính đối với D, L, X, Đ.

 [6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt: Lê Văn T 10 (mười) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tại Bản án số 01/2017/HSST ngày 05/01/2017 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Lê Văn T 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2016 đến 16/6/2016 và từ ngày 27/12/2016 đến 28/12/2016; Buộc bị cáo Lê Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 19 (mười chín) năm 11 (mười một tháng) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong chứa ma túy còn lại sau giám định, 03 dao lam, 01 bật lửa gas, 01 mảnh giấy vở học sinh. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu đen hiệu Samsung và 01 điện thoại di động màu đen hiệu Mobistar. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo Lê Văn T số tiền 400.000 đồng do bán ma túy mà có. Tạm giữ số tiền 550.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Lê Văn T để thực hiện nghĩa vụ thi hành bản án và án phí hình sự sơ thẩm. (Các vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2018 và Biên lai thu tiền số 0000778 ngày 19/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Về án phí áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2018/HS-ST ngày 07/11/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:106/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về