Bản án 106/2018/HNGĐ-ST ngày 21/08/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình- xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 106/2018/HNGĐ-ST NGÀY 21/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH - XIN LY HÔN

Ngày 21tháng 08 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2018/TLST-HNGĐ ngày 04/05/2018, về việc: "Tranh chấp về Hôn nhân gia đình- Xin ly hôn"theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2018/QĐXX-ST ngày 06 tháng 07 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 170/QĐST- HNGĐ ngày 23/7/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1983 (Có mặt)

Địa chỉ : Số 645, Khu vực Tràng Thọ 1, phường Thốt Nốt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn : Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Tây Bình C, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại sơn, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn Anh Nguyễn Văn Ch trình bày:

Anh Nguyễn Văn Ch và chị Nguyễn Thị L sống chung với nhau vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thốt  Nốt vào ngày 16/3/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, tính tình không còn phù hợp, do chị L không lo cho gia đình và có người đàn ông khác bên ngoài, anh Ch và chi L đã không còn sống chung từ 18/10/2016. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và kéo dài. Nên, anh Ch yêu cầu được ly hôn với chị L.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 21/8/2005 và Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 26/2/2007. Hiện con đang sống với anh Ch. Sau khi ly hôn anh Ch yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Chị Nguyễn Thị L trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng chị Nguyễn Thị L vẫn vắng mặt không lý do nên không ghi được ý kiến của chị Nguyễn Thị L và không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về hình thức: Anh Nguyễn Văn Ch  có đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị L có địa chỉ cư trú ấp Tây Bình C, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại sơn, tỉnh An Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ để dự phiên Tòa, nhưng chị L vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị L.

[2] Về nội dung: Nhận thấy anh Nguyễn Văn Ch và chị Nguyễn Thị L sống chung với nhau năm 2004 và có đăng ký kết hôn năm 2009 theo quy định của pháp luật nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng anh C, chị L chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Thời gian gần đây, đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Nguyễn Thị L không lo cho gia đình, có người đàn ông khác bên ngoài,  cả hai thường xuyên cự cãi và không còn sống chung từ  năm 2016 đến nay. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, đã tạo điều kiện cho các bên hàn gắn nhưng chị Nguyễn Thị L đều không đến, điều này thể hiện tình trạng hôn nhân anh giữa anh Ch và chị L mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ch.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 21/8/2005 và Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 26/2/2007. Hiện con đang sống với anh Ch. Sau khi ly hôn anh Ch yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
 
Xét yêu cầu nuôi con của anh Ch thì thấy trong quá trình các con chung sống với anh Ch, anh Ch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con rất tốt, mặt khác hiện nay các con có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn thì các con muốn sống với cha, do đó để tạo điều kiện cho các con ổn định về tâm lý và sinh hoạt hàng ngày nên chấp nhận cho anh Ch được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ghi nhận anh Ch xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh anh trong thời kỳ sống chung thì anh Ch và chị L vẫn phải liên đới  chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[3]Về án phí sơ thẩm: Anh C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110  Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Ch

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Ch được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.

- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn Ch được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 21/8/2005 và Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 26/2/2007. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị L không trực tiếp nuôi con chung nhưng chị L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Ghi nhận anh Ch xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của  anh, chị trong thời kỳ sống chung thì anh  Ch và chị L vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

-Về án phí: Anh Nguyễn Văn Ch phải chịu  300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm  nhưng  được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001117 ngày 04/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
 
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


115
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2018/HNGĐ-ST ngày 21/08/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình- xin ly hôn

Số hiệu:106/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về