Bản án 105/2019/DS-PT ngày 26/06/2019 về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 105/2019/DS-PT NGÀY 26/06/2019 VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SỨC KHỎE BỊ XÂM PHẠM

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 74/2019/TLPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DSST ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 142/2019/QĐ - PT ngày 30 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1/ Bà Nguyễn Thị P., sinh năm: 1973.

2/ Ông Trình Thanh H., sinh năm: 1976.

Cùng địa chỉ: Số 36 Đường B., ấp P., thị trấn T., huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Trình Văn N., sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Số 39 Đường B., ấp P., thị trấn T., huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ.

- Người làm chứng:

1/ Ông Trình Văn N1, sinh năm: 1963.

Địa chỉ: Số 46 Đường B., ấp P., thị trấn T., huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ.

2/ Bà Trình Thị Kiều O., sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Số 36 Đường B., ấp P., thị trấn T., huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P., ông Trình Thanh H..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 06/9/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị P. trình bày:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 26/5/2017, giữa bà P. và ông Trình Văn N. có cự cải nhau, sau đó ông N. dùng tay đánh vào đầu và hai cánh tay của bà nhiều lần gây thương tích. Do bận công việc nên đến ngày 30/5/2017, bà mới đi điều trị thương tích. Sau khi xuất viện, 03 tháng sau bà mới lao động bình thường trở lại. Chồng bà là ông Trình Thanh H. phải nghỉ việc chăm sóc bà tại bệnh viện và tại nhà tổng cộng 20 ngày.

Trước khi bị ông N. đánh, bà làm ruộng và trồng bông thu nhập bình quân từ 4.000.000 đồng đến 4.500.000 đồng. Ông H. làm nghề lái máy cày và máy xới đất. Nay bà P. yêu cầu ông N. bồi thường thiệt hại các khoản với tổng số tiền là 93.000.000 đồng, cụ thể:

- Chi phí điều trị, tái khám, sử dụng dịch vụ y tế là 5.957.000 đồng.

- Thu nhập thực tế bị mất, cụ thể:

+ Thu nhập của bà P. bị mất trong thời gian điều trị thương tích tại bệnh viện là 1.200.000 đồng {08 ngày (30/6/2017 đến ngày 06/7/2017) x 150.000đ/ngày};

+ Thu nhập của bà P. bị mất trong thời gian nghỉ dưỡng tại nhà là 13.500.000đ {90 ngày (06/7/2017 đến ngày 07/9/2017) x 150.000đ/ ngày};

+ Thu nhập của ông H. bị mất trong thời gian chăm sóc bà P. điều trị thương tích tại bệnh viện là 1.200.000đ {08 ngày (30/5/2017 đến ngày 06/6/2017) x 150.000đ/ngày};

+ Thu nhập của ông H. bị mất trong thời gian chăm sóc bà P. nghỉ dưỡng tại nhà là 1.800.000 đồng {12 ngày (07/6/2017 đến ngày 18/6/2017) x 150.000đ/ngày};

- Bồi thường tổn thất về tinh thần cho bà P. là 69.500.000 đồng {1.390.000đ/tháng (mức lương cơ sở) x 50 lần mức lương cơ sở}.

Nguyên đơn ông Trình Thanh H. trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà P.. Sau khi bà P. bị ông N. đánh, ông H. phải đi nuôi và chăm sóc bà P. 08 ngày tại bệnh viện. Sau ngày xuất viện, sức khỏe của bà P. còn yếu nên ông tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc bà P. 12 ngày tại nhà. Trong khoảng thời gian này ông không đi làm được nên bị mất thu nhập. Do đó, ông H. yêu cầu ông N. phải bồi thường cho ông số tiền 3.000.000 đồng (20 ngày x 150.000đ/ngày) tiền thu nhập thực tế bị mất. Số tiền này đã nằm trong 93.000.000 đồng mà bà P. yêu cầu ông N. bồi thường.

Trước khi bà P. bị ông N. đánh, ông đi lái máy xới đất. Sau khi trừ chi phí dầu mỡ, hao mòn máy móc… ông còn lời được 3.000.000đ/ngày. Nhưng ông chỉ yêu cầu ông N. bồi thường số tiền 150.000đ/ngày.

Bị đơn ông Trình Văn N. trình bày: Ông không đồng ý bồi thường cho bà P. và ông H. số tiền 93.000.000 đồng, vì ngày 26/5/2017, ông không đánh bà P., không gây thương tích như bà P. và ông H. đã trình. Việc bà P. bị thương tích như đã trình bày thì ông không biết. Ông thừa nhận vào ngày 26/5/2017, ông có trực tiếp cự cãi với ông H. và bà P.. Trong lúc cự cãi, ông và bà P. có cầm nắm tay nhau cùng xô đẩy qua lại nhưng ông không đánh chị Phường. Ông không bị thương tích nên không có yêu cầu gì đối với ông H. và bà P..

Việc xô xát giữa ông và vợ chồng bà P., ông H. đã được Công an huyện Vĩnh Thạnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 08/QĐ-XPHC ngày 26/8/2017, theo đó, đã xử phạt ông 2.500.000 đồng do đã thực hiện hành vi xâm hại sức khỏe của người khác. Ông đồng ý với quyết định xử phạt này nên không có khiếu nại và cũng không khởi kiện ra Tòa. Do hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng nộp phạt nên ông đã làm đơn đề nghị Công an huyện Vĩnh Thạnh xem xét miễn, giảm một phần tiền phạt nhưng đến nay ông vẫn chưa nộp phạt.

- Người làm chứng ông Trình Văn N1 và bà Trình Thị Kiều O. cùng trình bày: Ông N1 và bà Oanh là anh em ruột của ông H.. Theo ông N1 và bà O. thì vào khoảng 15 giờ ngày 26/5/2017, ông bà có chứng kiến ông N. có cự cãi với ông H. và bà P. về ranh đất. Sau một hồi cự cãi qua lại, ông bà thấy ông N. dùng tay đánh vào mặt bà P., tiếp sau đó ông N. còn nắm tay bà P. ghị xuống rồi dùng tay đánh vào đầu bà P. nhiều cái, gây thương tích. Bà P. đã phải đi điều trị thương tích tại bệnh viện. Ông N. chỉ dùng tay đánh bà P. gây thương tích, ông N. không dùng hung khí để đánh bà P.. Riêng ông D. cũng có mặt tại hiện trường nhưng không đánh bà P. mà chỉ chửi mắng và đe dọa mọi người.

Tại bản án sơ thẩm số 02/2019/DSST ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đã tuyên xử như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P. và ông Trình Thanh H.. Buộc ông Trình Văn N. chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị P. và ông Trình Thanh H. 18.417.000 đông (mười tám triệu, bốn trăm mười bảy ngàn đồng).

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P. và ông Trình Thanh H.. Phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông Trình Văn N. bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà P. và ông H. không được xem xét chấp nhận là 74.583.000 đồng (bảy mươi bốn triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn đồng). Do không có căn cứ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm trả số tiền trên cho bà P. và ông H., thì ông N. còn phải trả tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 25/01/2019 nguyên đơn bà Nguyễn Thị P. và ông Trình Thanh H. có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm buộc ông Trình Văn N. bồi thường tổn thất tinh thần cho bà P. thêm số tiền 63.940.000 đồng và bồi thường thêm cho ông Trình Thanh H. số tiền thu nhập bị mất là 1.800.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Tại phiên tòa nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị P., Trình Thanh H. trong thời hạn luật định, nên chấp nhận.

Bị đơn ông Trình Văn N. được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông có đơn xin vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 296 ,Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Trình Văn N..

[2] Về nội dung tranh chấp và yêu cầu kháng cáo:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P., ông Trình Thanh H. kháng cáo yêu cầu ông Trình Văn N. bồi thường tổn thất tinh thần cho bà P. 46 tháng với số tiền là là 63.940.000 đồng, bồi thường tiền mất thu nhập 12 ngày do nuôi bệnh cho bà P. tại nhà cho ông H. số tiền 1.800.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo nội dung hồ sơ thể hiện vào khoảng 15 giờ ngày 26/5/2017, ông Trình Văn N. có đến nhà bà P. cự cải nhau và dẫn đến xô sát, ông N. có dùng tay đánh vào đầu và hai cánh tay của bà P. gây thương tích. Đến ngày 30/5/2017, bà P. đến bệnh viện điều trị.

Căn cứ vào Giấy ra viện, Giấy chứng nhận thương tích ngày 06/6/2017 của bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang ghi nhận bà P. bị đa chấn thương, đau đầu do bị đánh.

Căn cứ vào Bản kết luận giám định pháp y về thương tích kết luận: bà P. bị đa chấn thương vùng đầu, ngực, hai vai gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn. Đã được điều trị nội khoa ổn định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 05% và không dùng hung khí để đánh bà P.. Chứng minh bà P. có bị đánh gây nên thương tích như trên. Nhưng hành vi của ông N. chưa đủ yếu tố cấu thành tội hình sự nên Công an huyện Vĩnh Thạnh không khởi tố vụ án và ra Quyết định xử phạt hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 26/8/2017, xử phạt ông N. số tiền là 2.500.000 đồng là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Xét ông N. đã có hành vi trái pháp luật đánh bà P. gây thương tích, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại về sức khỏe cho bà P. nên phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định tại khoản 1 điều 584 Bộ luật dân sự.

Do đó bà P. yêu cầu ông N. phải bồi thường các khoản chi phí điều trị, tiền mất thu nhập, tổn thất tinh thần là có căn cứ.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông N. không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà P., ông H.. Phía ông H., bà P. không cung cấp thêm chứng cứ mới.

Xét yêu cầu kháng cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần 46 tháng và tiền mất thu nhập của bà P., ông H.. Căn cứ vào Giấy ra viện ngày 06/06/2017, ghi nhận tình trạng sức khỏe lúc ra viện đã “khỏi”, thương tích của bà P. theo kết quả giám định của cơ quan chức năng chỉ 5% nên thương tích gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tổn thất tinh thần của bà P. không lớn. Khi xuất viện, sức khỏe của bà P. đã ổn định có thể tự chăm sóc cho bản thân không cần đến sự hổ trợ của người khác. Cấp sơ thẩm đã xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường cho bà P., ông H. 18.417.000 đồng là có căn cứ.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhận dân thành phố Cần Thơ phát biểu phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà P., ông H., giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn thuộc trường hợp không phải nộp tiền án phí Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 296; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 357, 584, 585,586,588 và 590 Bộ luật dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Giữ nguyên bản án sơ thẩm Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P., ông Trình Thanh H..

1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P., ông Trình Thanh H..

Buộc ông Trình Văn N. phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe, thu nhập bị mất cho bà Nguyễn Thị P., ông Trình Thanh H.

18.417.000 đồng Không chấp nhận phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị P., ông Trình Thanh H. đối với việc buộc ông Trình Văn N. bồi thường thường hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị P. số tiền là 63.940.000 đồng; bồi thường mất thu nhập do nuôi bệnh cho ông Trình Thanh H. số tiền là 1.800.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm trả số tiền trên cho bà P., ông H. thì ông N. còn phải trả tiền lãi phát sinh đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, theo lãi suất được quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trình Văn N. phải chịu 920.000 đồng Bà P., ông H. được miễn án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị P., ông Trình Thanh H.

không phải nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


9
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về