Bản án 104/2020/HS-ST ngày 21/07/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 104/2020/HS-ST NGÀY 21/07/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 21/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân huyện Long Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2020/QĐXXST- HS ngày 06/7/2020 đối với bị cáo:

Phạm Tấn T, Tên gọi khác: Không Giới tính: Nam;

Sinh năm 1994 tại tỉnh Tây Ninh.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở hiện nay: xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai;

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Không;

Trình độ học vấn: 08/12;

Con ông Phạm Văn L, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị Mỹ T, sinh năm 1971.

Bị cáo chưa có vợ con Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 27/3/2020 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành.

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 08 giờ 30 phút ngày 26/3/2020, T điều khiển xe mô tô biển số 70D1- 295.10 đi từ xã T, huyện Nhơn Trạch đến xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh để xin việc làm. Tại đây, T gặp một người bạn tên T (không rõ nhân thân, lai lịch), T và T cùng nhau sử dụng ma tuý tại phòng trọ của T (T không nhớ vị trí phòng trọ của T). Sau khi sử dụng ma tuý xong, T lấy ra 01 gói ma tuý, kích thước 01x02 cm cho T sử dụng. T cất giấu túi ma tuý vào túi quần jean phía trước, bên phải. Sau đó, T điều khiển xe về huyện Nhơn Trạch. Khi đến khu vực xã P vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 27/3/2020 thì bị lực lượng Công an xã An Phước kiểm tra bắt quả tang và phát hiện lập biên bản phạm tội quả tang.

Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Tấn T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói nylong kích thước 01x02cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma tuý.

- 01 xe mô tô biển số 70D1-295.10 do Phạm Tấn T là chủ sở hữu không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị can.

Tại Bản kết luận giám định số: 637/KLGĐ-PC09 ngày 01/4/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,1524 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 132/CT-VKSLT ngày 16/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Phạm Tấn T để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuýtheo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Vieän kieåm saùt nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sữa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Tấn T từ 12 tháng đến 14 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Toà án nhân dân huyện Long Thành tuyên tịch thu tiêu huỷ 01 gói nylong kích thước 01x02cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma tuý đã được hoàn lại sau khi giám định số 637/KLGĐ-PC09.

- 01 xe mô tô biển số 70D1-295.10 do Phạm Tấn T là chủ sở hữu không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Kính mong hội đồng xét xử xét xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Phạm Tấn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, cùng các T liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định.

Lúc 08 giờ 30 phút, ngày 26/3/2020, T được một bạn tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 túi ma tuý đá kính thước 01x02cm. T lấy túi ma tuý cất giấu vào túi quần jean phía trước, bên pT để dành sử dụng cho bản thân, sau đó điều khiển xe mô tô biển số 70D1-295.10 đi về huyện Nhơn Trạch. Khi đến khu vực ấp 5, xã An Phước thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang T cùng vật chứng gồm 01 tùi ma tuý đá, kích thước 01x02cm có khối lượng 0,1524 gam loại Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Tấn T không thắc mắc gì đối với kết luật giám định.

Hành vi trên của bị cáo Phạm Tấn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm tương xướng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét cần thiết pT áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên giảm nhẹ phần nào mức hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ 01 gói nylong kích thước 01x02cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma tuý đã được hoàn lại sau khi giám định số 637/KLGĐ- PC09.

- 01 xe mô tô biển số 70D1-295.10 do Phạm Tấn T là chủ sở hữu không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị can nên không xem xét.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Phạm Tấn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 27 tháng 3 năm 2020.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sữa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tch thu tiêu huỷ gói nylong kích thước 01x02cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma tuý đã được hoàn lại sau khi giám định số 637/KLGĐ-PC09.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Tấn T phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 104/2020/HS-ST ngày 21/07/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:104/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về