Bản án 104/2019/HSST ngày 18/12/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 104/2019/HSST NGÀY 18/12/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 18 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2019/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu D (Tên gọi khác: Nguyễn Viết D), sinh năm 1987, nơi ĐKHKTT: Thôn 3, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn 3, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu V (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H2; vợ: Phí Thị H1; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năn 2018; tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án, Bản án hình sự số 30/2018/HSST ngày 03/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo D đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08 tháng 3 năm 2019. Chưa được xóa án tích, nhưng không thuộc trường hợp tái phạm.

Nhân thân:

- Bản án số 24/2005/HSST ngày 08/4/2005 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội phạt Nguyễn Hữu D 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 03/2006/HSST ngày 16/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất phạt Nguyễn Hữu D 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 15/2006/HSST ngày 10/5/2006 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất phạt Nguyễn Hữu D 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 20/2009/HSST ngày 05/5/2009 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội phạt Nguyễn Hữu D 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bản án số 54/2010 ngày 26/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất phạt Nguyễn Hữu D 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đối với 05 bản án trên Nguyễn Hữu D đã chấp hành xong hình phạt chính và các hình phạt khác có liên quan nên đã được xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Hữu D bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2019, Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội. Có mặt.

Bị hại: Bà Phí Thị H- sinh năm 1936, trú tại: Thôn 4, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội. (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bà Hiền:

- Ông Nguyễn Hữu X, sinh năm 1930, anh Nguyễn Hữu T- sinh năm 1965, anh Nguyễn Hữu C- sinh năm 1975.

Cùng địa chỉ: Thôn 4, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội.

- Chị Nguyễn Thị H3- sinh năm 1961.

Địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Có mặt.

- Anh Nguyễn Hữu T1- sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn 8, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị S- sinh năm 1967

Địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Có mặt.

- Chị Nguyễn Thị Ng- sinh năm 1973.

Địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu X, anh Nguyễn Hữu T, chị Nguyễn Thị H3, anh Nguyễn Hữu T1, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị Ng là anh Nguyễn Hữu C. (Những người trên là chồng và các con con của bà Phí Thị H). Anh C có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Cấn Thị H4- sinh năm 1977.

Địa chỉ: Thôn 5, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Vắng mặt.

- Anh Đỗ Đ- sinh năm 1981.

Địa chỉ: Thôn 8, xã H, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Vắng mặt.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1952. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn 4, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 24/9/2019, bị cáo Nguyễn Hữu D điều khiển xe điện ba bánh tự chế (xe ba gác) của anh Đỗ Đ, một mình đi bên phải phần đường của mình và đi theo đường liên thôn từ thôn 4 đi thôn 9 xã H để đi chở gỗ. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn 4, xã H thì có điện thoại gọi đến cho D. Do để điện thoại di động ở trong túi quần bên trái nên D đã sử dụng tay trái đang điều khiển xe và nghiêng người để lấy điện thoại trong túi quần ra nghe và sử dụng tay phải để điều khiển xe. Do điều khiển một tay nên phương tiện của D bị mất lái, rung lắc và bất ngờ ngoặt sang phải theo hướng di chuyển của D, lao vào lề đường va chạm với xe máy điện BKS: 29MĐ2 - 805.48 đang dựng trên lề đường và bà Phí Thị H – sinh năm 1936; trú tại: Thôn 4, xã H đang ngồi bán hàng trên lề đường. Phần đầu xe điện ba bánh tự chế do bị cáo D điều khiển đã đâm vào thùng hàng của bà H và đâm vào người bà H, đẩy ép người bà H vào tường xây phía sau.

Hậu quả: Bà Phí Thị H bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Thạch Thất nhưng do thương tích quá nặng đã tử vong sáng ngày 25/9/2019. Xe điện ba bánh tự chế và xe máy điện BKS: 29MĐ2-805.48 bị hư hỏng nhẹ.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 741/GĐTT-TTPY ngày 02/10/2019 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: Nguyên nhân chết của bà Phí Thị H do đa chấn thương, chấn thương bụng rất nặng, mất máu cấp, điều trị không đáp ứng dẫn đến suy tuần hoàn cấp không hồi phục, nạn nhân có bệnh lý viêm phổi, viêm gan, sơ gan mức độ nặng.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) xe máy điện BKS: 29MĐ2 - 805.48 sơn màu đen - trắng.

+ 01 (một) xe điện ba bánh tự chế (xe ba gác).

Xử lý vật chứng.

+ 01 (một) xe máy điện BKS: 29MĐ2 - 805.48 sơn màu đen - trắng đã trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Cấn Thị H4.

+ 01 (một) xe điện ba bánh tự chế (xe ba gác) chuyển sang chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất để chờ xử lý.

Nguyễn Hữu D điều khiển xe điện ba bánh tự chế (xe ba gác) là loại xe không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật bị nhà nước cấm lưu thông đã không làm chủ được phương tiện lao vào lề đường bên phải theo hướng đi va chạm vào bà Phí Thị H gây tai nạn khiến bà H tử vong. Hành vi của Nguyễn Hữu D đã vi phạm khoản 4, khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Ngày 03/5/2018 bị cáo Nguyễn Hữu D bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xử phạt phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo D đã chấp hành xong án phạt tù ngày 08 tháng 3 năm 2019. Căn cứ Điều 70 và Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì bị cáo D chưa được xóa án tích nhưng do tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc loại tội vô ý nên lần phạm tội này không thuộc diện tái phạm.

Đối với anh Đỗ Đ - sinh năm 1981 ở thôn 8, xã H là chủ xe điện ba bánh. Khi bị cáo D đến nhà anh Đ mượn xe thì chỉ có thợ sơn làm thuê cho anh Đ ở nhà còn anh Đ đi vắng. Anh Đ không giao xe cho D và cũng không biết việc D đến mượn xe để đi, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Đ.

Về dân sự: Ngày 12/11/2019, gia đình bị cáo D đã nộp số tiền 30.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất theo biên lai số 0006653 để đảm bảo việc bồi thường thiệt hại sau này.

Tại văn bản ngày 11/12/2019, anh Nguyễn Hữu C là đại diện của gia đình bà H đồng ý chấp nhận số tiền bồi thường của gia đình bị cáo D là 30.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo D bồi thường thêm khoản nào nữa. Đồng thời anh C đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D.

Chị Cấn Thị H4 không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.

Tại phiên tòa bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bản cáo trạng số 113/QĐ-VKS ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Hữu D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 260; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D từ 12 đến 18 tháng tù.

Về dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo D và gia đình bà Phí Thị H, bị cáo D bồi thường cho gia đình bà H số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

Về vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47của Bộ luật Hình sự. Phát mại bán phế liệu để sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc xe ba bánh tự chế do Công an huyện Thạch Thất thu giữ của anh Đỗ Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 00 ngày 24/9/2019, tại thôn 4, xã H, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Hữu D điều khiển xe điện ba bánh tự chế (xe ba gác), vừa lái xe vừa nghe điện thoại nên không làm chủ được phương tiện, xe bị mất lái lao vào lề đường bên phải theo hướng đi va chạm vào bà Phí Thị H gây tai nạn. Hậu quả bà H bị thương nặng được đưa đến bệnh viện đa khoa huyện Thạch Thất cấp cứu, đến ngày 25/9/2019 thì tử vong.

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Hữu D đã vi phạm khoản 4, khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết một người. Tại thời điểm phạm tội bị cáo D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Về hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của bà Phí Thị H. Nguyên nhân xẩy ra vụ án do lỗi của bị cáo, bị cáo D có nhân thân xấu, đã năm lần bị Tòa án xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện bị cáo đang có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, nên phải có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tuy bị cáo D phạm tội khi đang có tiền án, nhưng do tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thuộc loại tội vô ý. Căn cứ Khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự thì lần này bị cáo D phạm tội không thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình phạt theo Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã đến bệnh viện thăm hỏi bị hại, bị cáo đã tác động để gia đình nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất để bồi thường cho gia đình bị hại nhằm khắc phục hậu quả. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Việc bà Phí Thị H ngồi bán hàng trên lề đường giao thông đã vi phạm điểm a khoản 2 điều 35 Luật giao thông đường bộ năm 2008 nên hậu quả vụ va chạm giao thông cũng có một phần lỗi của bà H. Bị cáo D có bố và mẹ đều tham gia quân đội, được tặng bằng khen và nhiều giấy khen. Đại diện gia đình bị hại là anh Nguyễn Hữu T1 và anh Nguyễn Hữu C đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo D được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy điện BKS: 29MĐ2-805.48 sơn màu đen - trắng cho chị Cấn Thị H4 là đúng pháp luật.

Đối với chiếc xe ba bánh tự chế của anh Đỗ Đ do Cơ quan điều tra thu giữ, thấy: Anh Đ không biết việc bị cáo D mượn xe ba bánh tự chế của mình để đi. Căn cứ Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự quy định tài sản bị người phạm tội sử dụng trái phép thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Tuy nhiên căn cứ Điểm a Điều 2 Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ có quy định “… Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đình chỉ lưu hành ô tô đã hết niên hạn sử dụng, xe công nông, xe tự chế 3,4 bánh. Trường hợp cố tình vi phạm sẽ bị tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ”. Do vậy, phải tịch thu chiếc xe ba bánh tự chế của anh Đỗ Đ để phát mại bán phế liệu sung vào ngân sách nhà nước.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo D đã nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất theo Biên lai thu tiền số 0006653 ngày 12/11/2019 để bồi thường cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa bị cáo D cũng đồng ý bồi thường số tiền trên cho gia đình bà H. Anh Nguyễn Hữu C đại diện gia đình bị hại đồng ý nhận số tiền bồi thường trên và không yêu cầu bị cáo D bồi thường thêm khoản nào nữa. Sự tự nguyện trên của gia đình bị hại là phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[ 7]. Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 260; các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D (Nguyễn Viết D) 12 (Mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2019.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 47của Bộ luật Hình sự.

Phát mại (Bán phế liệu) để sung vào ngân sách nhà nước đối với chiếc xe ba bánh tự chế do Công an huyện Thạch Thất thu giữ của anh Đỗ Đ, theo Biên bản giao nhận tài liệu, tang vật số 15/2020/THA ngày 05 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất.

Về dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo D và gia đình bà Phí Thị H, bị cáo D bồi thường cho gia đình bà H số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), được trừ vào số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất theo Biên lai thu tiền số 0006653 ngày 12/11/2019.

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điểm a Khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hữu D chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự.

Quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại (Chồng và các con của bà Phí Thị H) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về