Bản án 104/2017/HNGĐ-ST ngày 29/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 104/2017/HNGĐ-ST NGÀY 29/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 29 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai vụ án thụ lý số 309/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1990 (có mặt) Trú tại: A1, bis 2, ấp 6, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Vương Gia Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt) Trú tại: E39, bis 2, ấp 6, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 12 năm 2016 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như lời khai tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh H trình bày:

Chị và anh Vương Gia Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới, và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi cưới vợ chồng chung sống không hạnh phúc, đến khoảng tháng 6 năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do anh Đ không đi làm, không quan tâm chăm sóc cho vợ con, lại nghiện ma túy, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã gây gổ, anh chị nhiều lần giải quyết mâu thuẫn hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên chị và anh Đ đã tự sống ly thân nhau đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Đ ly hôn.

Con chung: Có một con tên Vương An N, sinh ngày 31/10/2014. Hiện chị đang nuôi cháu N. Sau khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu N cho chị tiếp tục nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Vương Gia Đ đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa làm việc nên không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, việc thu thập chứng cứ thực hiện đúng theo điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đảm bảo đúng trình tự theo các Điều 222 đến 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định các Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn  không chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định Điều 70,72 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh H, xử cho chị H được ly hôn anh Đ. Về con chung: giao cháu Vương An N, sinh ngày 31/10/2014 cho chị H nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử  nhận định:

[1]. Tại phiên tòa, anh Đ không đến tham dự phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ.

[2].Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai  (giấy chứng nhận kết hôn số 81, quyển số 01/2014  ngày 21 tháng 10 năm 2014) nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào chứng cứ thu thập được thể hiện tại hồ sơ thì từ tháng 06/2016 đến nay chị H và anh Đ đã tự sống ly thân không quan tâm đến nhau, không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H xử cho chị H được ly hôn anh Đ là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam

[3].Về con chung: Có một con tên Vương An N, sinh ngày 31/10/2014. Sau khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao cháu N cho chị tiếp tục nuôi dưỡng.

Xét thấy, trong thời gian chị H và anh Đ sống ly thân, cháu N được chị H nuôi dưỡng tốt. Hiện nay cháu N vẫn còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cháu N cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam.

Chị H nuôi con không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nên không xét.

[4] Về  tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có nên không xét.

[5] Về án phí: Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 56, 81, 82, 83, 84  Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14  ngày  30/12/2016  của  Ủy  ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh H, xử cho chị Nguyễn Thị Ánh H được ly hôn anh Vương Gia Đ.

- Về con chung: Giao cháu Vương An N, sinh ngày 31/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Ánh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm thời, anh Vương Gia Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Vương Gia Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung; nợ chung: không xét.

2. Về án phí:  Chị Nguyễn Thị Ánh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 006345 ngày  05/5/2017 của Chi cục thi hành án huyện Long Thành. Chị H đã nộp đủ án phí.

3. Chị Nguyễn Thị Ánh H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vương Gia Đ được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


139
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 104/2017/HNGĐ-ST ngày 29/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:104/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về