Bản án 102/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 102/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 110/2017/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Đỗ Văn T (tức Đỗ Văn N)- sinh năm 1968

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã TT, huyện T1, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố đẻ: Đỗ Văn N1 (đã chết); mẹ đẻ: Đỗ Thị D, sinh năm 1944.

Bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con lớn.

Vợ: Nguyễn Thị N2, sinh năm 1976; trú tại: Thôn L, xã TT, huyện T1, tỉnh Thái Bình.

Có 02 con: con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 39 ngày 05/01/1988 của Toà án nhân dân huyện T1 xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân; Bản án số 376/HSST ngày 12/11/1991 của Toà án nhân dân thành phố H xử phạt 05 năm tù về tội cướp tài sản công dân; Bản án số 29/STHS ngày 09/11/2004 của Toà án nhân dân huyện V, thành phố H xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; Bản án số 08/2006-HSST ngày 27/02/2006 của Toà án nhân dân huyện T1 xử phạt 01 năm tù về tội trộm huỷ hoại tài sản (các bản án trên đều đã được xoá án tích). Từ ngày 12/11/2016 đến 17/01/2017 bị đưa vào nuôi dưỡng tại Trường lao động xã hội TX, quận H1, thành phố H.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/6/2017 đến ngày 14/6/2017 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng:

Ông Trịnh Quang N3, sinh năm 1966 và ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1956, đều trú tại: Thôn X, xã TX, huyện T1, tỉnh Thái Bình (Ông T2 có mặt, ông N3 vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Đỗ Văn T bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do bị nghiện ma túy, nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/6/2017, T đi xe ôm của một người không biết tên, tuổi, địa chỉ từ nhà đến ngã tư thị trấn D, huyện T1, tỉnh Thái Bình mua 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đặc điểm, mục đích để sử dụng. T cất gói ma túy vào túi quần đang mặc rồi đi xe ôm về nhà. Đến 14 giờ cùng ngày T đang đi bộ trên trục đường thuộc thôn X, xã TX, huyện T1 thì bị tổ công tác của Công an huyện T1 phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu cảng D phát hiện, yêu cầu T về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã TX để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của những người làm chứng, tổ công tác kiểm tra thu giữ trong túi quần bên phải phía trước quần T đang mặc 01 được gói bằng mảnh giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng mẫu số A1 gửi đi giám định. Cùng ngày, Đồn biên phòng cửa khẩu cảng D khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không phát hiện, thu giữ gì.

Trong quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Lời khai của những người làm chứng:

Ông Trịnh Quang N3 và ông Nguyễn Minh T2 trình bày: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 08/6/2017, chúng tôi đã được mời đến Uỷ ban nhân dân xã TX chứng kiến việc tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu cảng D và Công an huyện T1 kiểm tra người anh Đỗ Văn T phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải phía trước quần T đang mặc 01 được gói bằng mảnh giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai đó là khai đó là ma túy loại hê rô in vừa mua của người đàn ông không quen biết ở khu x, thị trấn D, T1, Thái Bình với giá 200.000 đồng. Ngoài ra tổ công tác không phát hiện gì khác.

Tại Bản kết luận giám định số 220/KLGĐ-PC54 ngày 09/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận “Mẫu số A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (hêrôin) có trọng lượng 0,3418 gam. Heroine STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ”.

Tại Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 13/9/2017, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình quyết định truy tố Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 45 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên đề nghị: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

XÉT THẤY

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đỗ Văn T đều khai nhận: Do bị nghiện ma túy nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/6/2017, T đi xe ôm của một người không biết tên, tuổi, địa chỉ từ nhà đến ngã tư thị trấn D, huyện T1, tỉnh Thái Bình mua 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đặc điểm, mục đích để sử dụng. Đến 14 giờ cùng ngày T đang đi bộ trên trục đường thuộc thôn X, xã TX, huyện T1 thì bị tổ công tác của Công an huyện T1 phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu cảng D phát hiện, yêu cầu T về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã TX để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của những người làm chứng, tổ công tác kiểm tra thu giữ trong túi quần bên phải phía trước quần T đang mặc 01 được gói bằng mảnh giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai đó là ma túy loại hê rô in vừa mua về mục đích để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích khác. Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cất giấu ma túy để sử dụng. Bị cáo nhận tội, khai báo thành khẩn và xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Văn T phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Đồn biên phòng cửa khẩu cảng D và Công an huyện T1 lập hồi 14 giờ 15 phút ngày 08/6/2017; lời khai của những người làm chứng là các ông Trịnh Quang N3 và ông Nguyễn Minh T2; Kết luận giám định về trọng lượng, loại ma túy; Biên bản khám xét và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Đỗ Văn T là người đã thực hiện hành vi cất giấu trong người 01 gói ma túy, loại hêrôin có trọng lượng 0,3418 gam. Chất hêrôin là chất ma túy được quy định trong Nghị định số 82/2013/NĐ-CP Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Đây là ma túy do bị cáo mua về để sử dụng mà không có mục đích khác nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh Thái Bình quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 194: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Bị cáo Đỗ Văn T là người nghiện ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội, là nguyên nhân lây truyền dịch bệnh HIV/AIDS; bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật

nhưng bị cáo vẫn cất giấu ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nên phải xử lý; cần áp dụng Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt tù đối với bị cáo. Như vậy có thể giáo dục bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Theo Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn T đều thành khẩn khai báo do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Hành vi của bị cáo tàng trữ 0,3418 gam hêrôin nên áp dụng hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội đến khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành cho bị cáo được hưởng tình tiết quy định về một hình phạt nhẹ hơn theo Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trong vụ án này:

Đối với người bán ma tuý cho Đỗ Văn T ở ngã tư thị trấn D, huyện T1 ngày 08/6/2017 và người xe ôm T thuê chở xuống ngã tư thị trấn D để mua ma tuý, T không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của họ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở điều tra, xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

Số vật chứng hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/9/2017 gồm: 0,3418 gam ma túy loại hêrôin, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,2913 gam đựng trong phong bì niêm phong số 220/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình. Đây là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng Khoản 1; điểm a, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về án phí:

Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T (Đỗ Văn N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Áp dụng điều luật:

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 45 Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội:

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T (Đỗ Văn N) 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/6/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1; điểm a, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh Thái Bình được xử lý như sau:

Tịch thu tiêu hủy 0,2913 gam chế phẩm hêrôin sau khi lấy mẫu giám định còn lại tại mẫu A1. (Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/9/2017 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T1, tỉnh Thái Bình).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đỗ Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


45
Án lệ được căn cứ
     
    Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
      Bản án/Quyết định phúc thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về