Bản án 10/2021/HNGĐ-ST ngày 28/01/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 10/2021/HNGĐ-ST NGÀY 28/01/2021 VỀ LY HÔN

Trong các ngày 14 và ngày 28 tháng 01 năm 2021; tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 328/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020; về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Đ, sinh năm: 1970:

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn X, sinh năm: 1971.

Cùng địa chỉ: Ấp Y, xã Bình T, huyện Thanh B, tỉnh ĐT.

(Chị Lê Thị Đ có mặt, anh Nguyễn Văn X vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Đ trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đ và anh Nguyễn Văn X xác lập hôn nhân do mai mối làm đám cưới vào năm 1992, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình T, huyện Thanh B, tỉnh ĐT vào ngày 03/9/2002. Việc kết hôn là tự nguyện, không bị cưỡng ép, lừa dối. Thời gian đầu chung sống với nhau thì anh chị có cuộc sống gia đình hạnh phúc; nhưng sau đó thì anh chị phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng; do anh X thường xuyên nhậu và đánh chị. Từ năm 2011, chị Đ và anh X sống ly thân. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ly thân anh X không một lời hỏi thăm, điện thoại liên lạc, dẫn đến không hàn gắn, đoàn tụ với nhau được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn X.

Về con chung: Trong thời gian sống hạnh phúc chị Đ và anh X có 04 con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 16/10/1992; Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 03/01/1995; Nguyễn Minh N, sinh ngày 06/01/1998; Nguyễn Thị Mỷ N, sinh ngày 20/4/2000, hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn X: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho anh X các thủ tục về tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên, anh X vẫn cố tình không đến tham gia tố tụng và không trình bày ý kiến cho Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng dân sự là đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Đ đối với anh Nguyễn Văn X, về việc yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo mở phiên họp và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa đối với anh Nguyễn Văn X; nhưng anh X vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do; do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh X là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nội dung tranh chấp giữa chị Lê Thị Đ và anh Nguyễn Văn X làm phát sinh “Ly hôn” được quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật; về thẩm quyền giải quyết được quy định tại các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đ và anh X được xây dựng trên cơ sở mai mối, không bị cưỡng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại phiên tòa hôm nay chị Đ cương quyết yêu cầu ly hôn với anh X, nhưng anh O không có văn bản trình bày ý kiến, nên làm phát sinh việc tranh chấp ly hôn theo quy định pháp luật.

 Xét việc chị Đ và anh O ly thân từ năm 2011 đến nay mà không có hàn gắn tình cảm lại được; nguyên nhân do anh chị bất đồng ý kiến với nhau, anh O có lần đánh chị Đ, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng phát sinh gay gắt, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa hôm nay, chị Đ xác định không còn tình cảm gì với anh O, nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh O là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Vì vậy căn cứ vào quy định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Đ đối với anh Nguyễn Văn X là phù hợp.

[4] Về nuôi con chung: Trong thời gian sống hạnh phúc chị Đ và anh X có 04 con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 16/10/1992; Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 03/01/1995; Nguyễn Minh N, sinh ngày 06/01/1998; Nguyễn Thị Mỷ N, sinh ngày 20/4/2000, hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản, nợ chung: Không có.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lê Thị Đ là nguyên đơn khởi kiện thì phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000 đồng. Anh Nguyễn Văn X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Đ đối với anh Nguyễn Văn X (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 229, ngày 03/9/2002, của UBND xã Bình T, huyện Thanh B, tỉnh ĐT).

- Về nuôi con chung: Trong thời gian sống hạnh phúc chị Đ và anh X có 04 con chung tên Nguyễn Thị Kim C, sinh ngày 16/10/1992; Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 03/01/1995; Nguyễn Minh N, sinh ngày 06/01/1998; Nguyễn Thị Mỷ N, sinh ngày 20/4/2000, hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Lê Thị Đ phải chịu án phí ly hôn 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số BI/2019/0006777, quyển số 136 ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Anh Nguyễn Văn X không phải chịu tiền án phí ly hôn.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đ i, b sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2021/HNGĐ-ST ngày 28/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:10/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Bình - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về