Bản án 10/2021/HNGĐ-ST ngày 09/02/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 10/2021/HNGĐ-ST NGÀY 09/02/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 09 tháng 02 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 386/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Anh Phạm Tấn Ph, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

(Chị B, anh Ph vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn, chị Lê Thị B trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được một thời gian thì chị B và anh Phạm Tấn Ph có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 04-02-2015 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Ph không lo làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ đầu năm 2019 thì chị B và anh Ph ly thân. Nay, chị B yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Chị B xin được ly hôn với anh Ph.

Về nuôi con chung: Chị B và anh Ph có 01 người con chung Phạm Lê Như Ng, sinh ngày 10-10-2015, chị B có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Ng và không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Tấn Ph được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Giao con chung cho chị B được quyền nuôi dưỡng; anh Ph không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị B không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị B và anh Ph sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay chị B yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của anh Ph là xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị B vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Ph đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị B và anh Ph trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 04-02-2015 tại UBND xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị B nguyên nhân mâu thuẫn do anh Ph không lo làm ăn, giữa vợ chồng lại bất đồng quan điểm nên dần dần tình cảm vợ chồng không còn. Chị B và anh Ph cũng ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của chị B, Tòa án đã triệu tập anh Ph để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng anh Ph vẫn không đến. Ngoài ra, theo kết quả xác minh tại địa phương thì mâu thuẫn giữa chị B và anh Ph là có thật. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh Ph ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị B được ly hôn với anh Ph.

[2.2] Về nuôi con chung: Xét thấy, từ khi chị B và anh Ph ly thân thì con chung là cháu Phạm Lê Như Ng, sinh ngày 10-10-2015 do chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Nay, chị B có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị B nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của chị B không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị B không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Chị B phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị B và anh Phạm Tấn Ph.

2.Về nuôi con chung: Chị Lê Thị B và anh Phạm Tấn Ph có 01 người con chung là Phạm Lê Như Ng, sinh ngày 10-10-2015;

Giao con chung Phạm Lê Như Ng, sinh ngày 10-10-2015 cho chị Lê Thị B trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị B không yêu cầu anh Phạm Tấn Ph cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Tấn Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về án phí: Chị Lê Thị B phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà chị B đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2020/0004871 ngày 12 tháng 10 năm 2020; chị Lê Thị B đã nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2021/HNGĐ-ST ngày 09/02/2021 về ly hôn

Số hiệu:10/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Đức - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về