Bản án 10/2020/DS-PT ngày 17/01/2020 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 10/2020/DS-PT NGÀY 17/01/2020 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO TÀI SẢN BỊ XÂM PHẠM

Trong các ngày 16, 17 tháng 01 năm 2020, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 174/2019/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2019 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 124/2019/DSST ngày 06/08/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2019/QĐXXPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Thị Tuyết T, sinh năm 1982; cư trú ấp Thới Hữu, Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Hồng N, sinh năm 1995; cư trú ấp Trường Hòa, xã Trường L, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Trần Thị H, sinh năm 1957; cư trú ấp Thới Hữu, Đ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Phn trình bày của nguyên đơn theo đơn khởi kiện ngày 29/01/2019 và trong quá trình tố tụng như sau: Do hai bên đã có mâu thuẫn về tranh chấp đất đai từ trước nên ngày 08/11/2018, nguyên đơn phát hiện bị đơn xịt thuốc diệt cỏ vào ruộng trồng sen của nguyên đơn. Diện tích ruộng trồng sen này khoảng 3000m2 và đang trong giai đoạn chuẩn bị thu hoạch. Ngoài ra, phía bị đơn còn ngăn cản không cho nguyên đơn canh tác trên diện tích ruộng trồng sen khoảng 9.000m2. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại giá trị số cây sen đã bị chết do thuốc xịt cỏ gây ra trên diện tích là 3.000m2 và số cây sen do không được canh tác trên diện tích là 9.000m2 với tổng số tiền tương ứng là 42.000.000 đồng (số tiền này được tính dựa trên bình quân cây giống, chi phí vật tư, công nuôi trồng cho 01 công sen từ khi trồng cho đến khi thu hoạch là 3.500.000đồng/công x 12 công).

Phn trình bày ý kiến của bị đơn: Bị đơn thừa nhận có sử dụng thuốc xịt cỏ để xịt vào ruộng sen của nguyên đơn làm cho sen chết trên diện tích khoảng 3.000m2. Nhưng không đồng ý bồi thường vì quyền sử dụng đất làm ruộng sen này đang có tranh chấp giữa hai bên nên nguyên đơn không được trồng sen. Khi nào Tòa án giải quyết là đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ai thì người đó mới được sử dụng canh tác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2019/DSST ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã tuyên:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết T. Buộc bị đơn bà Trần Thị H có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm cho nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết T số tiền là 38.700.000 đồng (ba mươi tám triệu bảy trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thanh toán số tiền nợ trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 20/8/2019, bị đơn bà Trần Thị H kháng cáo với nội dung không đồng ý bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn số tiền 38.700.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn đồng ý bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn 03 công trồng sen mà bà làm chết chứ không đồng ý bồi thường 12 công trồng sen như yêu cầu của nguyên đơn.

Phần phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

Về thủ tục: Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại các biên bản làm việc tại cơ sở thì nguyên đơn khai báo với chính quyền địa phương là bị bị đơn xịt thuốc diệt cỏ làm chết sen trồng trên diện tích khoảng 3.000m2. Vì vậy, cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải bồi thường sen trồng trên diện tích khoảng 12.000m2 là không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự là sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm. Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của cấp sơ thẩm là đúng theo khoản 6 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Tại tờ tường trình ngày 09/11/2018, nguyên đơn có trình báo đến Công an Đ và Ủy ban nhân dân Đ – huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ - về việc bị bị đơn phun thuốc diệt cỏ vào ruộng đang trồng sen có diện tích khoảng 3000m2. Có nghĩa rằng ngay từ đầu, nguyên đơn đã xác định được diện tích sen trồng bị thiệt hại do hành vi phun thuốc diệt cỏ vào ruộng sen mà bị đơn thực hiện. Nên bị đơn chỉ phải bồi thường thiệt hại sen trồng trên diện tích mà nguyên đơn đã khai báo thiệt hại. Theo đó, số tiền bồi thường thiệt hại cho diện tích 1.000m2 trồng sen là 3.225.000 đồng (theo mức mà các đương sự thống nhất tại cấp sơ thẩm) * 3.000m2 = 9.675.000 đồng (chín triệu sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

[3] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại trên diện tích 9.000m2 mà nguyên đơn cho rằng bị đơn có hành vi ngăn cản, không cho trồng sen để tính luôn thiệt hại là không có căn cứ chấp nhận. Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm phải được xác định trên thiệt hại có thật, đã xảy ra chứ không được xác định trên cơ sở có thể xảy ra.

[4] Về án phí dân sự: Bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khon 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên án: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2019/DSST ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ như sau.

Buộc bị đơn bà Trần Thị H phải bồi thường cho nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết T số tiền là 9.675.000 đồng (chín triệu sáu trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thanh toán số tiền nợ cho nguyên đơn thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự: Bị đơn bà Trần Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Bà Trần Thị H được nhận lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 001723 ngày 20/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết T được nhận lại số tiền 3.950.000 đồng (ba triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 001378 ngày 22/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Bản án này có hiệu lực thi hành ngay.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


14
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về