Bản án 10/2019/HNGĐ-ST ngày 10/10/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 10/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/10/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2019/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2019, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H; sinh năm 1985; địa chỉ: thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng Hồng S; sinh năm 1987; địa chỉ: thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 02/5/2019 và quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đặng Hồng S kết hôn ngày 14/11/2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn của anh chị trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn khoảng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, đánh nhau. Hiện nay tình cảm yêu thương không còn, không có khả năng hàn gắn hạnh phúc. Vì vậy chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn anh Đặng Hồng S.

- Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Đặng Hồng S có 01 con chung là Đặng Khải M, sinh ngày 03/5/2013. Chị H có nguyện vọng được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành. Chị H yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.000.000 đồng. Tại phiên chị H rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đặng Hồng S trình bày tại bản tự khai ngày 13/5/2019:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh S công nhận nội dung kết hôn với chị Lê Thị H là đúng. Anh S và chị H có nhiều mâu thuẫn, anh S đồng ý ly hôn với chị H.

- Về con chung: Anh S và chị H có 01 con chung là Đặng Khải M, sinh ngày 03/5/2013. Anh S đồng ý giao con cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành. Anh S không đồng ý cấp dưỡng cho con theo yêu cầu của chị H.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh S không có ý kiến.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh S, tuy nhiên anh S vắng mặt, do đó Tòa án không thể tiến hành hòa giải; tại phiên tòa, anh S vắng mặt không lý do.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Người tham gia tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; người tham gia tố tụng chị Lê Thị H chấp hành đúng quy định của pháp luật, anh Đặng Hồng S không chấp hành các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của bị đơn.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung giao con chung cho chị H nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp “Ly hôn”; Bị đơn anh Đặng Hồng S có nơi cư trú tại thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với anh Đặng Hồng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

[2]. Về nội dung:

2.1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Đặng Hồng S kết hôn ngày 14/11/2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn của anh chị trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị H và anh S xảy ra nhiều mâu thuẫn. Thấy rằng hiện nay mâu thuẫn giữa chị H và anh S đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị H và anh Son không còn chung sống với nhau nữa. Việc mâu thuẫn gia đình, chị H và anh S không báo nên chính quyền địa phương không biết.

Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị H đã không còn tình cảm đối với anh S, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở, cần chấp nhận.

2.2. Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Đặng Hồng S có 01 con chung là Đặng Khải M, sinh ngày 03/5/2013.

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị H: Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Đặng Khải M đang sống cùng chị H, chị H trình bày có đủ điều kiện chăm sóc con, đồng thời anh S đồng ý giao con cho chị H nuôi dưỡng. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị H.

Tại phiên tòa chị H tự nguyện rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của chị H là tự nguyện. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 244 đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H Anh S, chị H thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn theo các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, không ai được cản trở

2.3. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 - Điều 28; điểm a - khoản 1 - Điều 35; điểm a - khoản 1 - Điều 39; khoản 3 - Điều 144; khoản 4 - Điều 147; điểm b – khoản 2 – Điều 227; Điều 235; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 19; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị H ly hôn anh Đặng Hồng S.

2. Về con chung: Giao con chung là Đặng Khải M, sinh ngày 03/5/2013 cho chị Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Chị Lê Thị H và anh Đặng Hồng S có các quyền và nghĩa vụ đối với con sau ly hôn theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000806 ngày 07/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

253
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST ngày 10/10/2019 về ly hôn

Số hiệu:10/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Nô - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 10/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về